NỘI DUNG THƠ VĂN NGUYỄN KHUYẾN:

 - Người đăng bài viết: Thu Trang  - Chuyên mục :  Đã xem: 22 

Daytot.vn giới thiệu tới các em NỘI DUNG THƠ VĂN NGUYỄN KHUYẾN:

 

 NỘI DUNG THƠ VĂN  NGUYỄN KHUYẾN:

1.Tấm lòng yêu nước thiết tha sâu nặng:

TOP

 

1.1. Tư tưởng yêu nước của Nguyễn Khuyến:

 

Tư tưởng yêu nước của Nguyễn Khuyến trước hết gắn kiền với tư tưởng trung quân. Ðây là một tư tưởng  yêu nước hết sức chân chính tiến bộ. Nguyễn Khuyến vừa là nhà nho vừa là một ông quan từng hưởng bổng lộc của triều đình nên tư tưởng trung quân đậm nét. Trong Di chúc, ông thể hiện rõ quan điểm của mình:

 

Khi đưa Thầy con rước đầu tiên

Cờ biển vua ban ngày trứơc

 

Sống giữa thời kỳ nước mất nhà tan, Nguyễn Khuyến không đành nhìn đất nứơc rơi vào tay giặc, lại không cam tâm ở lại triều đình để làm bù nhìn nên ông quyết định xin cáo quan về ở ẩn.  Lòng Nguyễn Khuyến từng dạt dào bao  ý định chua xót về quyết định này:

 

Khứ quốc khởi vô bằng bối tại,

Quy gia vị tất tử tôn hiền?

(Cảm tác)

Dịch nghĩa:

Bỏ chức há không bạn bè ở lại

Về nhà vị tất con cháu đã khen thay?

 

Về sau, thời cuộc biến chuyển, nhiều người tiếp tục từ quan. Nguyễn Khuyến thấy rất rõ họ không phải là kẻ bất tài, mà trái lại, đó là những kẻ dũng thoái   :

 

Khả hạnh chư quân năng dũng thoái,

Vị ưng nhất chức tẫn phi tài

Bách niên tứ hà vi giả,

Ngô ấp khâu lăng diệc mỹ tai!

(Vũ hậu xuân túy cảm thành)

 

Dịch nghĩa:

Ðáng mừng các bạn mạnh dạn dám lui về,

Ðâu phải là đối với chức vụ mình không làm nổi

Cuộc đời trăm năm xe ngựa có ra trò gì,

Mà ở quê chúng ta gò núi vẫn tươi đẹp lắm

(Cảm hoài sau bữa chén xuân sau cơn mưa )

 

Sau khi cáo quan, Nguyễn Khuyến sống ở làng quê và xem quê hương như chiếc nôi, chỗ dựa vững chắc ch cuộc sống bình dị của mình. Ông sống khiêm tốn, trong sạch, giữ tiết tháo, chan hòa với mọi người. Ông thường làm các bài thơ ngâm vịnh ca ngợi  vẻ đẹp của các loai hoa, ca ngợi công dụng các loài cây, qua đó muốn nói đến cái đức của mình.

 

Nguyễn Khuyến còn nhấn mạnh vẻ đẹp tâm hồn của con người nhằm khẳng định phẩm chất trong sạch của ông. Ông quan niệm:

 

Ngoại mạo bất cầu như mỹ ngọc

Tâm trung thường thủ tự kiên kim

 

Lời ca ngợi tiết tháo của người đàn bà đáng thương trong bài thơ Mẹ mốc của Nguyễn khuyến có cái gì giống như sự quyết tâm của nhà thơ:

 

Sạch như nước, trắng như ngà, trong như tuyết.

Mảnh gương trinh vằng vặc quyết không nhơ.

 

Nguyễn Khuyến là người coi trọng danh dự và khí tiết nên nhiều lần nhà thơ từng trăn trở về vấn đề này:

 

Thế đồ kim hựu đa kha khảm,

Lợi cục nan năng quả oán vưu.

Vị ngã phất tu chung hữu khích,

Thức nhân thỏa diện tích bằng ưu.

(Tiểu thán)

 

Dịch nghĩa:

Trên đường đời, nay lại gặp nhiều bứơc gập gềnh,

Trong cuộc đời khó giữ được ít lời oán trách.

Kẻ phẩy râu cho mình, rốt cuộc cũng gây nên hiềm khích,

Người ta nhổ vào mặt mình chùi đi, đời xưa còn cho là đáng lo.

(Vài lời than)

 

Có thể nói, hành động ở ẩn của Nguyễn Khuyến cũng là cách để nhà thơ giữ phẩm chất của mình. Nhiều bài thơ tiêu biểu có tính chất triết lý cao: Di chúc, Vườn Bùi chốn cũ, Vịnh cây tùng, Cây lược đồi mồi, Mẹ Mốc, Xuân dạ lân nga, nhân tặng nhục, Tiểu thán...

 

1.2. Sự quan tâm lo lắngcho đất nước:

 

Thể hiện qua nỗi đau của nhà thơ khi không làm được gì để thay đổi thời cuộc. Lời thơ thường đượm buồn, đầy nước mắt khi nói về đất nước:

 

Ðời loạn người về như hạt độc

Tuổi già hình bóng tựa mây côi.

(Cảm tác)

 

Sách vở ích gì cho buổi ấy

Aùo xiêm nghĩ lại thẹn thân già

(Ngày xuân dặn các con)

 

Hình ảnh quê hương đất nước xuất hiện trong thơ ôngkhi trực tiếp, khi gián tiếp, khi cụ thể nhưng đều dưới dạng trữ tình ảm đạm của nhà thơ:

 

Cố quốc sơn hà chân thảm đạm

(Hung niên)

 

Nhất độ giang sơn nhất bạc đầu

(Thu tứ)

 

Nhà thơ từng mượn tiếng cuốc kêu  để thể hiện tâm trạng nhớ nước da diết, khắc khoải của mình. Bài thơ Cuốc kêu c ảm hứng như một lời nỉ non tâm sự, từng làm xao xuyến tâm hồn bao thế hệ khi gợi nhớ non sông.

 

Nói chung, âm điệu trong phần lớn thơ trữ tình của Nguyễn Khyến là buồn. Nghe tiếng hát giữa đêm khuya hay tết đến, xuân về đều khiến nhà thơ buồn tê tái:

 

Xuân về ngày loạn còn lơ láo

Người gặp khi cùng cũng ngất ngơ,

 

2. Thái độ phản kháng đối với xã hội thực dân nửa phong kiến

TOP

2.1.Ðối với thực dân Pháp:

 

Ðả kích những việc làm gây tiếng vang ầm ĩ lúc bấy giờ, lên án những thủ đoạn bóc lột sức người, sức của của nhân dân. Bọn chúng đã đẩy hàng vạn người dân vô tội đến chốn ma thiêng nước độc. Bài thơ Hội Tây, Hoài cổ, Văn tế Cơ ri vi e(*)â… đã phản ánh thực trạng đó bằng bút pháp hiện thực trào phúng sâu sắc:

 

Hỡi ôi!

Ông ở bê Tây,

Ông qua bảo hộ.

Cái tóc ông quăn,

Cái mũi ông lõ,

Ðít ông cưỡi lừa,

Miệng ông húyt chó,

Lưng ông đeo súng lục liên,

Chân ông đi giày có mỏ,

Ông dẹp cờ đen

Ðể yên con đỏ.

Ai ngờ:

Nó bắt được ông,

Nó chặt mất sỏ.

Cái đầu ông đâu?

 

Cái đít ông đó.

Khốn khổ thân ông

Ðéo mẹ cha nó

 

2.2.           Ðối với bọn quan lại, bọn me Tây, gái điếm:

 

Nguyễn Khuyến từng làm quan nên đã thấy rõ hiện thực quan trường và thế giới khoa bảng nói chung là đổ nát và thảm hại.

 

Ngòi bút ông đã vạch trần nhiều mặt xấu xa thối nát của bọn quan lại nào là bất tài, vô dụng, dốt nát chỉ là thứ phỗng đá không hơn không kém, trơ trơ trước sự nguyền rủa của dân.

 

Thái độ của Nguyễn Khuyến rất dứt khoát. Ông mắng chúng không kiêng nể. Bằng lối nói mát chửi mát theo kiểu Việt Nam Nói ngọt mà lọt đến xương, Nguyễn Khuyến đả kích, châm biếm xỏ ngầm rất thâm độc. Thậm chí khi cần, ông cũng chuyển roi quất mạnh bằng các biện pháp nghệ thuật độc đáo như chơi chữ, nói láy, dùng từ đa nghĩa, dùng âm của chữ Hán chuyển sang từ Việt.

 

Bồ chứa miệng dân chừng bật cạp,

Tiên là ý chú muốn vòi xu

Từ vàng sao chẳng luôn từ bạc

Không khéo mà roi nó phết cho

(Bồ tiên thi)

 

Các bài thơ tiêu biểu: Ông phỗng đá, Lời vợ người hát chèo, Hỏi thăm quan tuần bị mất cướp, Bồ tiên thi, tặng ông Ðốc học Hà Nam  đều là những bài thơ vạch mặt chỉ tên những tên quan bất tài, hống hách bằng thái độ châm biếm tố cáo sâu sắc.

 

Trong bài thơ chữ Hán Quá quận công Hữu Ðộ sinh từ hữu cảm là thái độ khinh bỉ, mỉa mai của Nguyễn Khuyến đả kích tên Nguyễn Hữu Ðộ, sau khi hắn chết, đi qua sinh từ của hắn, nhà thơ nghĩ:

 

Công tại, tứ thời tập quan đới,

Ðắc dự giả hỉ, bất dự bi.

Công khứ, quan đới bất phục tập,

Hương hỏa tịch tịch hoà ly ly.

Dản kiến đệ nhị vô danh công,

Triêu tịch huề trượng lai vu ty.

Trần gian hưng phế đẳng nhàn sự,

Bất tri cửu nguyên thùy dữ quy?

 

Dịch nghĩa:

Khi ông còn thì áo mũ cân đai bốn mùa tấp nập,

Kẻ được dự vào đó thì mừng, kẻ không được dự thì buồn,

Sau khi ông mất rồi thì không thấy mũ áo xúm xít lại nữa,

Hương lửa vắng tanh, lúa mọc rườm rà.

Chỉ thấy có ông Thứ nhì không tên

Sớm sớm chiều chiều chống gậy vào ngôi nhà ấy.

Ở đời có lúc thịnh, lúa suy, đó là việc thường,

Không biết dưới chín suối bây giờ ông theo ai?

(Cảm nghĩ lúc qua sinh từ quận công Nguyễn Hữu Ðộ)

 

Nhưng có lẽ đả kích bọn quan lại cay độc nhất là khi nhà thơ liệt chúng ngang hàng Vợ bợm chồng quan danh phận đó (Ðĩ Cầu Nôm) dễ làm ta liên tưởng đến câu tục ngữ mèo mả gà đồng, là những tên không ra gì.

 

Ðặc biệt, ngòi bút của Nguyễn Khuyến tỏ ra không khoang nhượng khi viết về bọn me Tây, gái điếm. Trong một vế câu đối Mừng cô Tư Hồng ông viết:

Có tàn, có tán, có hương án thờ vua danh giá lẫy lừng ba mươi sáu tỉnh.

 

Ở một câu đối khác:

Thôi cũng đừng cõng rắn cắn gà nhà, phong lưu chú Bát, phú quý dì Tư, mây nổi đã từng qua trước mắt

 

Có thể nói, cũng như các nhà thơ thuộc khuynh hướng hiện thực tố cáo giai đoạn này, Nguyễn Khuyến đã bám vào hiện tượng cụ thể để đả kích. Từng con người, từng hiện tượng và những sự việc lố lăng trong xã hội đều bị vạch trần và thể hiện rõ phong cách độc đáo của ông.

 

2.3.Ðối với khoa danh, khoa giáp thời ấy:

 

Cũng bị lên án khắc nghiệt vì những tên quan lại đều xuất thân từ khoa bảng nhưng khoa bảng lúc bấy giờ lại mục nát, suy đồi. Nho sĩ không còn sĩ khí, uy thế như xưa nữa. Thế nhưng nhà Nguyễn nẫn cố duy trì ba kỳ thi: Thi Hương , thi Hội, thi Ðình nên đã sinh ra những ông Nghè, ông Cống. Vì vậy, sự tương phản càng rõ nét.

 

Nguyễn Khuyến phê phán nhân tài của xã hội chỉ là những người không ra gì. Có danh nhưng không thực. Mặc dù:

Cũng cờ, cũng biển, cũng cân đai

Cũng gọi ông Nghè có kém ai

 

Nhưng ông lại tiếc rẻ:

Chiếc thân xiêm áo sao mà nhẹ

Cái giá khoa danh thế mới hời

 

Ấy thế còn ra dáng đường bệ:

Ghế tréo lộng xanh ngồi bảnh chọe

Nghĩ rằng đồ thật hóa đồ chơi

 

Bài thơ gợi ra mối liên tưởng tới thân phận những kẻ khoa bảng, bọn quan lại ở thời kỳ nước mất, nhà tan. Ðạo nho sắp đến ngày mạt vận đang cơn hấp hối nhưng nhà Nguyễn vẫn cho diễn lại cái trò lều chõng thêm vài chục năm để đào tạo tiếp tay sai phục vụ cho bộ máy bù nhìn của chúng.

 

Ông mai mỉa cảnh khoa cử suy đồi, đạo đức của kẻ siõ bị đánh mất trước tiền tài và danh vọng. Bài thơ Thầy đồ ve gái goá là một ví dụ tiêu biểu:

Ở góa thế gian nào mấy mụ

Ði ve thiên hạ thiếu chi thầy

Yêu thầy cũng muốn cho thầy dạy

Dạy cháu nên rồi mẹ cháu ngây.

 

3. Một tâm hồn giàu cảm xúc yêu thương:  

TOP

 

3.1. Lòng yêu thiên nhiên và cảnh vật Việt Nam:

 

Nguyễn Khuyến cáo quan về quê nhưng ông không hề thoát ly hiện thực. Lúc nào ông cũng say sưa chan hoà với quê hương. Cảnh sắc được ông miêu tả hết sức chân thật và sống động.

 

- Tả cảnh bốn mùa, đặc biệt là cảnh mùa thu thật sắc sảo, đậm nét. Cảnh mùa thu trong thơ Nguyễn Khuyến không hề ước lệ, trang trọng, khuôn sáo như trong văn chương, sách vở mà chỉ là những cảnh gần gũi, quen thuộc như trời thu, gió thu, ao thu, trăng thu, lá thu … được tác giả thi vị hoá hết sức tài tình. Ba bài thơ Thu ẩm, Thu điếu, Thu vịnh đã gợi được cái hồn, cái thần, cái tinh tế của cảnh vật màu thu, là ba bức tranh đặc sắc về cảnh nông thôn nước ta, nhất là cảnh đồng chiêm trũng miền Bắc.

 

- Nguyễn Khuyến còn những bài thơ tả cảnh hè (Ðêm mùa hạ) và cảnh xuân (Ngày xuân) rất độc đáo.

 

- Những bài tả cảnh núi (Vịnh núi An lão), cảnh chùa (Về chơi chùa Ðọi) đều trở thành những danh lam thắng cảnh của đất nước.

 

Nguyễn Khuyến nhìn cảnh vật bằng cặp mắt của người thưởng ngoạn và bằng tâm hồn của thi nhân nên trước vẻ đẹp của đất nước đã vẽ lên một bức tranh nghệ thuật tuyệt đẹp. Cảnh sông, núi, trăng, sao, thời tiết, mùa màng  qua cảm nhận của ông đều trở nên có hồn và tinh tế.


 
Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết

  Ý kiến bạn đọc

  Ẩn/Hiện ý kiến

Mã chống spam   

Những tin mới hơn

 

Những tin cũ hơn

Thời điểm thi THPT QG

Bạn muốn tổ chức thi thử vào THPT QG khi nào?

Top