THƠ ĐIÊM HÀN MẠC TỬ

 - Người đăng bài viết: Thu Trang  - Chuyên mục :  Đã xem: 279 

DAYTOT xin gửi tới các em bài THƠ ĐIÊN HÀN MẠC TỬ

 

THƠ ĐIÊN HÀN MẠC TỬ
Chinh phục cái Tột cùng, tất nhiên, cần phải có thơ ca của một hình thức tột cùng. Hình thức ấy, đối với Hàn Mặc Tử, liệu có thể là gì khác hơn Thơ Điên? 

Nói đến Hàn Mặc Tử là nói đến nhà thơ lạ nhất của Phong trào Thơ Mới, người "cai trị Trường thơ Loạn của các nhà thơ Bình Định" [11] . Nói đến thơ ông, người ta nhớ đến thơ Cổ điển trong Lệ Thanh thi tập, thơ Lãng mạn trong Gái quê... nhưng, hơn tất cả là nhớ đến Thơ Điên trong Đau thương. Có thể nói chính Thơ Điên chứ không phải gì khác là phần đặc sắc nhất đã làm nên cái "lạ" kia, làm nên tên tuổi và ngôi vị Hàn Mặc Tử. 

Tôi muốn dành mục cuối này, cũng là mục dài nhất, để nói về cống hiến quan trọng nhất này của Hàn Mặc Tử cho thơ ca hiện đại. 

Trong lời tựa "Điêu tàn" - vẫn được xem là bản tuyên ngôn chung của Trường Thơ Loạn mà Tử là "kẻ cai trị"- có viết: "Cái gì của nó cũng tột cùng. Nó gào vỡ sọ, nó thét đứt hầu, nó khóc trào máu mắt, nó cười tràn cả tuỷ là tuỷ. Thế mà có người tự cho là hiểu được nó, rồi đem so sánh nó với Người, và chê nó là giả dối, không chân thật. Vâng! Nó không chân thật, nó giả dối với Người. Với nó, cái gì nó nói đều có cả[12] . Cái gì nó nói đều có cả đó là nguyên tắc chân thật. Điều ấy không phải là độc quyền của thi phái này so với các thứ thơ khác. Cái gì của nó cũng tột cùng, đó mới là nguyên tắc mĩ học đặc thù của Thơ Điên. Đọc Hàn Mặc Tử, ta sẽ thấy cái ham muốn tột bậc của thi sĩ này là tìm đến một Cõi thơ tuyệt đối, đi đến một thứ thơ mà cái gì ở đó cũng phải là Tột cùng (Dĩ nhiên, Tột cùng đây là theo cách quan niệm của thi sĩ). Là thi phẩm vào loại đắc ý nhất của ham muốn này, Thơ Điên đã hiện rõ trên diện mạo của mình cả sức mạnh cùng giới hạn của những cái Tột cùng ấy. 

Cái tên có phần "giật gân" của Thơ Điên, ngay từ đầu đã có sức mê hoặc giới nghiên cứu. Người ta nghĩ ngay đến việc nhận diện bản chất của Điên và bản chất Thơ Điên. Không ít người đã yên chí với cách nghĩ giản đơn: điên chỉ là một trạng thái bệnh lí, đồng nghĩa với chứng loạn thần kinh, mà không thấy rằng còn có điên như một trạng thái sáng tạo. Đó là lúc cảm hứng đến như một cơn "sốc", người làm thơ lâm vào một cơn sáng tạo như "lên đồng". Ý thức tỉnh táo như mờ đi, lùi lại phía sau, nhường phần lớn quyền điều hành qui trình sáng tạo cho tiềm thức, vô thức. Chế Lan Viên phân biệt giữa làm thơ của những thi sĩ thường tình với trường hợp Hàn Mặc Tử trong Thơ Điên là bị thơ làm, chủ yếu bởi điều này. Tuy nhiên, đa phần là lao vào việc nhận diện Thơ Điên, mà cũng thường lấy tiêu chí của Thơ Lãng mạn, Tượng trưng, Siêu thực... để xếp nó vào các ô ấy [13] . Nhưng Thơ Điên vốn là một dung hợp đa tạp, nó bướng bỉnh không chịu ở yên trong một ô nào. Việc dùng những tiêu chí của những khuynh hướng thơ có sẵn để soi xét một hiện tượng thơ mới nảy sinh là điều cần thiết - giúp ta phân loại và định giá rõ một trường hợp cá biệt trong cái mặt bằng chung. Song, một sáng tạo thực sự mới lạ bao giờ cũng có sự bất kham nào đấy, những ngăn ô, yên cương cũ rất dễ bị chối bỏ. Vả chăng, đấy cũng chỉ là cái thao tác sau. Sao trước hết không bắt đầu bằng việc hình dung về cái diện mạo của nó. Biết đâu, cái diện mạo riêng kia sẽ đòi phải có một ngăn ô mới. Biết đâu Thơ Điên chỉ có thể hợp với... Thơ Điên. 

Tôi cho là như thế, Thơ Điên Hàn Mặc Tử đó là Thi học của cái tột cùng

Khái niệm "Thơ điên" vẫn được lưu hành với ít nhất ba tư cách: 1) một thi phẩm, nó chính là tập thơ "Đau thương"; 2) một quan niệm thẩm mỹ về thơ cùng với nó là khuynh hướng thi ca không chỉ tồn tại ở Việt Nam, có thể nói bắt đầu từ Mallarme; và 3) một loại hình thơ được chủ trương bởi Hàn Mặc Tử và các nhà thơ thuộc "trường thơ loạn" Bình Định. ở đây, nó được đề cập đến chủ yếu ở tư cách thứ ba. Và đối tượng khảo sát cơ bản là tập "Đau thương". 

Trước hết, cần khẳng định: Thơ Điên không phải là một phát minh mới về thể loại. Nó vẫn thuộc phạm trù Thơ Mới. Nhưng là một dạng thức Thơ Mới đặc biệt. Nghĩa là bên cạnh những đặc trưng của "loài" Thơ Mới, nó vẫn có những đặc trưng về "giống"riêng. Những khái quát dưới đây về diện mạo của thơ Điên không phải chủ yếu từ những tuyên ngôn về một mô hình thơ thuộc ý thức lí thuyết, mà chủ yếu từ thực tế sáng tác. Những đặc trưng ấy tồn tại trong thế ràng rịt lẫn nhau, nên việc tách bạch chỉ là tương đối. 


6.1. Nguồn cảm xúc đặc thù của thơ Điên: Đau thương 

Chúng ta đều biết một chân lí quen thuộc: "Thơ là tiếng lòng" (Diệp Tiếp). Mỗi tiếng thơ đều xuất phát từ một tiếng lòng riêng. Một loại hình thơ, xét một mặt nào đó, là một tiếng lòng được điệu thức hoá. Mà tiếng lòng là cảm xúc. Cái nguồn cảm xúc tìm đến hình thức thơ Điên chính là Đau Thương vậy. 

Nhiều người đã động tới Đau Thương [14] . Nhưng không phải ngay từ đầu Đau thương đã được hiểu một cách đúng đắn. Suốt mấy chục năm qua, trong giới "Hàn học", vẫn không ít người, bởi lí do nào đấy, cứ đánh đồng Đau đớn về thân xác với Đau khổ về tinh thần để hạ thấp thơ Hàn xuống thành những tiếng rên siết của một xác thân bệnh hoạn, để nhìn nhận nó như một thứ suy đồi. Chúng ta không loại trừ những Đau đớn thân xác đã đầu quân khá đông vào thơ Tử. Nhưng chỉ có thế không thôi, làm sao có thể thành thơ được. Chỉ khi nào những Đau đớn xác thân, với một cơ chế nào đấy, chuyển hoá sang địa hạt tinh thần, hoá thân vào nỗi Đau khổ tinh thần, thì khi ấy tiếng nói của nó mới cất lên thành thơ. Nhìn một cách khác, đau đớn thân xác chỉ là những chất liệu để Hàn Mặc Tử biểu hiện những đau khổ tinh thần của mình. Đó là một rắc rối mà cũng là một ma lực của thơ Tử. Về bản chất, Đau thương ở Tử là một niềm tuyệt vọng lớn. Và đây chính là nguồn cảm xúc ở cung bậc Tột cùng của tiếng nói trữ tình. Niềm tuyệt vọng được dâng lên từ thân xác bệnh hoạn mà gia nhập vào cõi tinh thần hay từ tinh thần đã tan thấm vào mọi nơi chốn của xác thân? Niềm tuyệt vọng đến từ một sự đứt gẫy nào đó trong tâm thể hay từ một dự cảm thường trực về cái chết cận kề cứ chốc chốc lại vồ chụp lấy tâm trí Tử ném thẳng nó xuống cái vực không đáy của Hư vô? Có lẽ là cả hai. Cho nên trong thơ Tử, ta có thể cảm nghe được cả một thế giới bên trong vô hình đang lâm vào tuyệt vọng qua những tiếng rên rỉ rớm máu của thân xác bên ngoài. Nếu ai kia "viết dưới giá treo cổ" [15] , thì Tử đang viết dưới cái bóng vừa huơ lên của lưỡi hái tử thần. Sống đối với Tử, bấy giờ, là một cuộc chạy đua bạt vía tuỵêt vọng đối với tử thần. Chữ "mãnh liệt" e rằng không còn đủ độ để diễn tả trạng thái sống như một dây đàn ở cái chót điểm sắp sửa đứt phăng của Tử. Sống tức là Yêu. Lòng yêu sống đã đẩy thi sĩ đến cận kề cái tiếng nổ tự phá huỷ của cõi tinh thần. Cho nên đó cũng chính là cái nỗi cô đơn đặc biệt: nỗi cô đơn quá tải. Chỉ có những kẻ xấu số bất hạnh thế mới có được trải nghiệm này. Vậy là, Đau thương ở Tử là một thứ siêu nghiệm. Đau thương vừa là dạng thức vừa là cung bậc của cảm xúc thơ thường trực trong hồn thơ Hàn Mặc Tử. 

Song, điều đẹp đẽ là ở chỗ: Tuyệt vọng có thể chấm dứt hi vọng, nhưng không chấm dứt tình yêu. Tình yêu ở Tử càng mãnh liệt càng tuyệt vọng, càng tuyệt vọng lại càng mãnh liệt. Và, như một nghịch lí không khó hiểu, tình yêu tuyệt vọng đó đã trở thành một cách thế yêu đời của Hàn Mặc Tử. "Phải vì tất cả đều đang đi đến cái chết, nên tất cả mới hiện lên rực rỡ đến thế.". Không có ai tha thiết với cuộc đời cho bằng một người sắp sửa lìa đời. Nhìn cuộc đời ở thời điểm chót cùng của đời người đó là tâm thế trữ tình, là tâm thế sáng tạo đặc thù của Hàn Mặc Tử trong Thơ Điên. Tại thời điểm ấy, niềm thiết tha đồng nhất với nỗi đau đớn - Càng thiết tha càng đau đớn, càng đau đớn càng thiết tha. Nghịch lí của niềm tuỵêt vọng kia cũng chính là như vậy. Và đây là cái gốc của thơ Điên. Đúng thế, nếu Đau thương là nội dung sáng tạo, thì Điên là hình thức của sáng tạo ấy. Nói cách khác Điên chính là sự hiện hình, sự cất tiếng của Đau thương. Tất cả những yếu tố dị thường đến mức kì quái nữa, sở dĩ có thể thành thơ được là nhờ được đảm bảo bằng một thứ siêu nghiệm như thế. 

Có lẽ chưa cảm thông hết với nguồn sống thuộc về siêu nghiệm này, mà Xuân Diệu, trong bài "Thơ của Người" [16] , đã tỏ ý nghi ngờ Thơ Điên. Trái lại, Chế Lan Viên - một thi hữu của Hàn - ngay từ đầu đã tiền hô hậu ủng, và đến khi viết giới thiệu cho Tuyển tập của người tri kỉ xấu số, vẫn giữ vững ý kiến bênh vực sắc bén của mình. ông dẫn ra một tiếng thơ có một vẻ rất "điên", và chỉ ra yếu tố nào đã đem lại sức sống chân chính cho nó: "Chúng ta cần có người tả trăng là trăng. Nhưng cũng cần có người vượt lề thói tập đoàn mà xẻ trăng làm hai nửa (...) Cần truyền thống nhưng cũng cần biến dị, cần nói những điều chưa ai nói (...) Hôm nay có một nửa trăng thôi / Một nửa trăng ai cắn vỡ rồi/... Không phải ma thuật, kĩ thuật gì của óc đang lạm phát ngôn từ. Lòng có bị cắn đôi, đời có bị tan vỡ, tình có bị đứt đoạn, nghĩa là có một thảm sử gì làm trữ kim, làm đảm bảo, thì mới có thể phát ra những từ ấy." [17] . Thế đấy, Đau thương chính là thứ trữ kim tột cùng của thơ Hàn. 

Nhờ thứ trữ kim này người ta chẳng những thấy được cái lí của những hình thức kì dị, quá xa lạ, mà còn xuyên qua rào cản của những cảm giác kinh dị để nhận chân những nỗi niềm thơ chân chính của thi nhân. Thơ Điên vì thế là tiếng kêu rỏ máu của con chim sắp lìa trần, là tiếng nói của những hụt hẫng tan hoang, là tiếng nói của một thân phận bị dồn đẩy đến miệng vực của nỗi chết, chới với bên miệng vực ấy mà ngoái nhìn đời, nuối đời, níu đời. Mỗi tiếng thơ khác nào một lời nguyện cuối, một lời tuyệt mệnh. "Tôi còn trìu mến biết bao người / Vẻ đẹp xa hoa của một trời / Đầy lệ đầy thương đầy tuyệt vọng? / Đây giờ hấp hối sắp chia phôi", "Ta trút linh hồn giữa phút đây / Gió sầu vô hạn nuối trong cây / Còn em sao chẳng hay gì cả / Xin để tang anh đến vạn ngày"... Cảm xúc chia lìa vĩnh biệt luôn choán ngợp cõi lòng, vò xé tâm can. "Lòng thi sĩ chứa đầy trang vĩnh biệt.", "Than ôi ! Hỡi biệt li chan chứa / Tưởng cùng em vui hưởng thú tiêu dao / Anh sắp đi và hai hàng lệ ứa / Cả đau thương dồn dập xót tâm bào", "Sao thơ anh toàn nhuộm màu li biệt / Rên không thôi và nức nở cả ban đêm"... Có thể nói, bước vào Thơ Điên là bước vào cái thế giới quằn quại của tinh thần. Nó là biểu hiện của những giằng xé quyết liệt giữa Bóng tối của Bệnh tật, Chết chóc, Ma quỉ với ánh sáng của Tình Yêu, Sự sống, Thần thánh... giữa Cố chấp, Thù hận, Hẹp hòi với Khoan dung, Độ lượng, Cao cả... giữa Địa Ngục hắc ám với Thiên đường quang minh... Tất cả những phản trái nghịch lí của nó đều là ngôn ngữ của Đau thương. 

Tuy trong các tuyên ngôn của mình, Hàn Mặc Tử đây đó tỏ ra không thật "tâm phục khẩu phục" Baudelaire, nhưng trường ảnh hưởng từ vị sư tổ của Chủ nghĩa Tượng trưng phương Tây này lớn đến mức khó cưỡng được, cho nên không thể không thấy Thơ Điên có dây mơ rễ má với "Hoa ác". Bởi hướng thơ của tác giả "Hoa ác"tuy vẫn được coi là đi tìm Cái Đẹp trong Cái ác, nhưng suy cho cùng, nó vẫn là bông hoa mọc lên từ cái gốc Đau thương. Dầu vậy, Đau Thương của Thơ Điên căn bản vẫn là cất lên từ thân phận thảm sử của Hàn Mặc Tử, có nghĩa: căn bản là nội sinh. Không có cái căn cốt là giá máu mà Hàn đã đánh đổi cho mỗi tiếng thơ của mình thì chưa chắc Thơ Điên đã đi xa hơn việc chạy theo một cái mốt tân kì để có thể làm rớm máu tâm can người đọc ở tận thế kỉ này. Và Đau thương đã tự tìm đến những hình thức của nó theo kiểu Hàn Mặc Tử. 
 


 
Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết

  Ý kiến bạn đọc

  Ẩn/Hiện ý kiến

Mã chống spam   

Những tin mới hơn

 

Những tin cũ hơn

Thời điểm thi THPT QG

Bạn muốn tổ chức thi thử vào THPT QG khi nào?

Top