SÂN KHẤU DÂN GIAN CHÈO

 - Người đăng bài viết: Thu Trang  - Chuyên mục :  Đã xem: 20 

Daytot.vn giới thiệu cho các em kiến thức SÂN KHẤU DÂN GIAN CHÈO

 

SÂN KHẤU DÂN GIAN CHÈO 

I. Giới thuyết chung về chèo

Chèo, tuồng, múa rối là các loại nghệ thuật sân khấu dân gian truyền thống rất lâu đời của dân tộc. Múa rối nước được xác định ra đời khoảng thế kỷ X, XI ở đồng bằng Bắc Bộ gắn với mặt nước hồ ao đồng ruộng. Các trò diễn của rối nước khá phong phú, nhân vật chú Tểu rất quen thuộc với người xem. Tuồng sớm đi vào cuộc sống cung đình và chuyên nghiệp hóa, thế kỷ XIX là thời hoàng kim của nghệ thuật tuồng. Chèo phát sinh và phát triển ở đồng bằng Bắc Bộ, là hình thức sân khấu dân gian truyền thống phát triển cao, giàu tính dân tộc hơn cả.

Nghệ thuật sân khấu là một nghệ thuật tổng hợp, chèo đã sử dụng một cách tổng hợp kho tàng văn học dân gian và nghệ thuật dân gian: sự tích chủ yếu lấy từ truyện cổ tích, truyện Nôm, ca vũ nhạc từ dân ca dân vũ, lời thơ chủ yếu là thơ dân gian ...

Sân khấu chèo dân gian đơn giản, những danh từ chèo sân đình, chiếu chèo cũng phát khởi từ đó. Diễn viên nói chung là những người không chuyên, hợp nhau trong những tổ chức văn nghệ dân gian gọi là phường chèo hay phường trò... Từ thế kỷ XVI đến XVIII - XIX, chèo phát triển mạnh ở vùng nông thôn, đã có những vở nổi tiếng như Quan âm Thị Kính, Lưu Bình Dương Lễ, Kim Nhan, Trương Viên ... Ðến thế kỷ XIX, chèo ảnh hưởng của tuồng, khai thác một số tích truyện như Tống Trân, Phạm Tải, hoặc tích truyện Trung Quốc như Hán Sở tranh hùng ... Ðầu thể kỷ XX, chèo sân đình, chèo dân gian truyền thống được đưa lên sân khấu thành thị trở thành chèo văn minh. Có thêm một số vở mới ra đời dựa theo các tích truyện cổ tích, truyện Nôm như Tô Thị, Nhị Ðộ Mai ... Ngày nay, ngoài sân khấu chuyên nghiệp, chèo vẫn sống trong nhân dân nhất là ở các tỉnh đồng bằng Bắc Bộ, đáp ứng nhu cầu, thị hiếu của nhân dân, những người yêu thích nền văn hóa truyền thống.

II  Nội dung xã hội của chèo dân gian

            Chèo là hình thức kể chuyện bằng sân khấu, chèo lấy sân khấu và diễn viên làm phương tiện giao lưu với công chúng, nội dung của các vở chèo là nội dung cốt lõi và tiêu biểu của những truyện cổ tích, truyện Nôm được nâng lên một mức cao bằng nghệ thuật sân khấu mang giá trị hiện thực và tư tưởng rất sâu sắc.

1.      Chèo là tấm gương phản ánh xã hội Việt Nam thời phong kiến

Nội dung chèo xoay quanh đời sống người nông dân trong quan hệ gia đình và xã hội. Xã hội trong chèo là xã hội có những kẻ thống trị, áp bức và những con người với những nỗi oan khuất, thiệt thòi.

Giai cấp thống trị phong kiến áp đặt trong xã hội nhiều giềng mối, nhưng vua, quan trên chiếu chèo mờ nhạt, không thể hiện vai trò đối với cuộc sống.

-Trời sinh thánh ế.

(đế)                 -Thánh đế chứ ?

-Ai chẳng biết đế với vương, nhưng không ai hỏi đến thì chẳng ế sưng ra à ?

-Trị nước ngang lưng.

(đế)                 - Trị nuớc lên ngôi chứ ?

-Nước lên ngôi thì ngồi mà chết à ? (Phù thủy xưng danh)

Quan lại trong chèo bộc lộ bản chất một bộ máy thống trị, áp bức.

-Quan đã ra, ai có gà thì nhốt lại.

(Từ Thức).

Những vị chức sắc trong làng xã hiện ra trên một chiếu chèo:

Trương Tuần: -Cướp đến làng tôi bỏ chạy xa,

Cướp chạy xa tôi vào vơ vét.

Xã trưởng:              -Tôi đứng đầu trong xã,

Làng ta đây lệnh nghiêm phép cấm,

Sao còn giữ thói dâm hoang.

(nhìn sang Mẹ Ðốp)

Nhuận sắc gớm nhỉ. Mấy cháu rồi ?... Hôm nào mát giời tao sang ...

                                                                                          (Quan âm Thị Kính)

Thêm vào đó là những bộ mặt đại diện cho bộ máy thống trị ở xã thôn, những Thầy mù, Hương câm, Ðồ điếc...

            Những hoạt cảnh xã hội được đưa lên sân khấu cho thấy thực trạng xã hội: cảnh bắt lính, cảnh loạn lạc chiến tranh, cảnh bắt khoán, cảnh nhà quan hạch sách, cảnh tiểu phá giới ...

            Bên cạnh đó là thực trạng cuộc sống người lao động nghèo khổ với những nỗi khốn cùng, oan khuất. Cũng như những nhân vật của truyện dân gian, họ là những người lương thiện, nhưng dưới xã hội bất công đó, họ phải chịu nhiều thống khổ, trở thành nạn nhân của sự áp bức, bóc lột: bị hãm hại, loạn lạc, đói khổ, thân phận long đong, tủi nhục ...

- Trách lòng ai nỡ phụ lòng,

Dang tay nỡ bẻ phiếm đồn làm đôi.

-Giời ơi oan con lắm mẹ ơi ! ...

Con ơi dù oan dù nhẫn chẳng oan,

Xa xôi cha biết nhẽ con nhường nào !

(Quan âm Thị Kính).

2. Chèo thể hiện tinh thần nhân đạo của nhân dân

Khi phản ánh hiện thực xã hội, chèo thể hiện tinh thần đấu tranh chống áp bức, tiếng nói đòi quyền sống cho con người. Bên cạnh đó, chèo thể hiện lòng yêu thương, trân trọng đối với những con người bị áp bức, cùng khổ, những con người có đức tính, phẩm hạnh tốt đẹp mà trải qua những thử thách cam go, những phẩm chất ấy càng toả sáng. Ðó là tấm lòng bác ái, đức hy sinh, lòng hiếu thảo, sự trung trinh, phẩm chất trong sạch, lòng dũng cảm ... Ðặc biệt, những người phụ nữ có số phận đau khổ nhất chính là những tấm gương sáng về đạo đức, phẩm hạnh.

-Về cùng cha, có trở về như vậy,

Cũng không sao tránh được tiếng mỉa mai.

Không ! Không ! Phải sống ở đời mới tỏ rõ là người đoan chính.

                                                                                    (Quan âm Thị Kính).

                        -Có sinh có đẻ cho cam,

Nàng dâu nuôi mẹ thế gian mấy người.

(Trương Viên).


 
Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết

  Ý kiến bạn đọc

  Ẩn/Hiện ý kiến

Mã chống spam   

Những tin mới hơn

 

Những tin cũ hơn

Thời điểm thi THPT QG

Bạn muốn tổ chức thi thử vào THPT QG khi nào?

Top