NHÀ THƠ XUÂN QUỲNH

 - Người đăng bài viết: Thu Trang  - Chuyên mục :  Đã xem: 199 

DAYTOT.VN GIỚI THIỆU ĐẾN CÁC EM NHÀ THƠ XUÂN QUỲNH

 

NHÀ THƠ XUÂN QUỲNH

Nhà thơ Xuân Quỳnh (1942-1988) vừa được trao Giải thưởng Hồ Chí Minh về VHNT, tên thật là Nguyễn Thị Xuân Quỳnh, vốn là diễn viên múa từ năm 13 tuổi, có thơ đăng báo năm 19 tuổi, trở thành nhà thơ chuyên nghiệp sau khi qua lớp bồi dưỡng những người viết văn trẻ khoá đầu tiên của Hội Nhà Văn Việt Nam (1962-1964).

                                                                   Nhà thơ Xuân Quỳnh

Chủ đề thơ Xuân Quỳnh thường là những vấn đề nội tâm: kỷ niệm tuổi thơ, tình yêu gia đình... Hiện thực xã hội, sự kiện đời sống hiện diện như một bối cảnh cho tâm trạng. Do vậy thơ Xuân Quỳnh hướng nội, rất tâm trạng cá nhân nhưng không là thứ tháp ngà xa rời đời sống. Thơ chị là đời sống đích thực, đời sống của chị trong những năm đất nước còn chia cắt, còn chiến tranh, còn nghèo, còn gian khổ, là những lo toan con cái, cơm nước, cửa nhà của một người phụ nữ, người phụ nữ làm thơ thường ngược xuôi trên mọi ngả đường bom đạn. Xuân Quỳnh không làm ra thơ, không chế tạo câu chữ mà chị viết như kể lại những gì chị đã sống, đã trải. Nét riêng của Xuân Quỳnh so với thế hệ nhà thơ hiện đại cùng thời chính là ở khía cạnh nội tâm đó. Thơ chị là thơ mang tâm trạng. Thời ấy nhiều bài thơ thiên về phản ánh sự kiện, cốt để được việc cho đời, còn tâm trạng tác giả thường là tâm trạng chung của xã hội, vui buồn tác giả hoà trong vui buồn chung của công dân. Tâm trạng thơ Xuân Quỳnh là tâm trạng nảy sinh từ đời sống của chính chị, từ hoàn cảnh của riêng chị. Viết trên đường 20 là bài thơ chiến tranh nhưng lại mang nỗi lòng trăn trở xao xác của một người đang yêu. Có bài bề bộn chi tiết hiện thực như một ký sự. Những năm ấy, đúng là ký sự về đời sống Hà Nội những năm chống Mỹ, nhưng nó không thành ký mà vẫn là thơ do nỗi lòng riêng của tác giả đã tạo nên một mạch trữ tình xâu chuỗi các chi tiết rời rạc của ngày thường lại, tổ chức nó thành kết cấu của bài thơ. Xuân Quỳnh có tài toả lên các chi tiết ngẫu nhiên quan sát được từ đời sống một từ trường cảm xúc của nội tâm mình, biến các chi tiết đời trở nên thơ, có sức gợi, sức ám ảnh kỳ lạ (Trời trở rét, Không đề, Gió Lào cát trắng, Mùa hoa doi, Hoa cỏ may...) 

Thơ Xuân Quỳnh giàu tình cảm, tình cảm sâu và tinh tế nhưng lẩn khuất phía sau tình cảm ấy lại là tư tưởng có tính khái quát, triết lý (Cơn mưa không phải của mình, Đồi đá ong và cây bạch đàn, Chuyện cổ tích về loài người, Những người mẹ không có lỗi...) Đấy là những triết lý nảy sinh từ đời sống, nó có tính thực tiễn, giúp ích thật sự cho người đọc nhận thức và xử lý việc đời, không phải thứ triết lý tư biện, viễn vọng mà chẳng dùng được vào việc gì. 

Đề tài, đối với Xuân Quỳnh, không phải là quan trọng. Điều chị quan tâm là chủ đề. Thơ Xuân Quỳnh bao giờ cũng có tứ, chị dùng tứ để bộc lộ chủ đề. Đây là một đóng góp đáng quý của Xuân Quỳnh vì giai đoạn ấy thơ chúng ta rất lỏng về tứ. Xuân Quỳnh có năng khiếu quan sát. Chị quan sát bằng tất cả giác quan và phong phú trong liên tưởng. Chi tiết vốn quen thuộc bỗng trở nên mới lạ, tạo ý vị cho câu thơ. Một màu cỏ mùa xuân: Cỏ bờ đê rất lạ/ Xanh như là chiêm bao. Tiếng mưa trên lá cọ: Mưa trên cọ bàng hoàng rồi vụt tạnh. 

Cũng có thể vì có tài quan sát mà ở một số bài Xuân Quỳnh ham tả, ham kể. Kể có duyên nhưng vẫn làm loãng chất thơ. Những bài thơ dài của Xuân Quỳnh thường dài vì rậm chi tiết. 

Xuân Quỳnh được coi là nhà thơ nữ hàng đầu của nửa cuối thế kỷ 20.

Tác phẩm: 

Thơ: 
- Gió Lào cát trắng, NXB Văn học, 1974 
- Hoa dọc chiến hào, NXB Văn học, 1968 
- Tự hát, NXB Tác phẩm mới, 1984 
- Lời ru trên mặt đất, NXB Tác phẩm mới, 1978 
- Sân ga chiều em đi, NXB Văn học, 1984 
- Truyện Lưu, Nguyễn (truyện thơ), NXB Kim đồng, 1983 
- Thơ viết tặng anh Tp. Hồ Chí Minh, Văn nghệ Tp. Hồ Chí Minh, 1988 

Dịch: 
- Bố ơi, bố làm con sợ đi (truyện tranh, t/g: Tamara Đăngblông), NXB Kim Đồng, 1989 

Truyện: 
- Bến tàu trong thành phố, NXB Kim Đồng, 1984 
- Vẫn có ông trăng khác (tập truyện ngắn), NXB Kim Đồng, 1988 
- Bao giờ con lớn (truyện tranh), NXB Kim Đồng, 1975 
- Mùa xuân trên cánh đồng, NXB Kim Đồng, 1981 
- Bầu trời trong quả trứng, NXB Kim Đồng, 2005

(Nguồn: Thi viện)

 

 

THƠ XUÂN QUỲNH

 

LỜI TỪ GIÃ CỦA TRUNG ĐOÀN THỦ ĐÔ

 

Mũ sắt mưa bay lất phất 
Trung đoàn lặng lẽ ra đi 
Bãi Long Biên gió buốt 
Dòng sông đen rì rầm 
Ngoảnh nhìn Hà Nội rưng rưng 
Liên khu Một bập bùng lửa cháy 
Phất Lộc, Nguyễn Siêu, Hàng Chiếu 
Ô Quan Chưởng, Cột đồng hồ 
Mái nhà cao thấp nhấp nhô 
Bao giờ trở lại? 
Hà Nội ơi Hà Nội 
Những tên người tên phố thân yêu 
Những chiến lũy cao 
Chồng chất tủ giường bàn ghế 
Có chiếc hòm nâu của mẹ 
Người mẹ nghèo đầu ô 
Chiếc xe nôi trẻ thơ 
Lỗ chỗ đầy vết đạn 
Chiếc dương cầm nhà ai 
Tiếng dây đứt trong đêm chờ giặc 
Ta có thằng bạn học 
Hy sinh chôn dưới nền nhà 
Đêm nay đơn vị rút ra 
Các cậu nằm ở lại 

Chân bước lòng đau nhói 
Đâu những mặt hồ sương muối 
Những sân trường lá rụng áo bay 
Những đường xưa héo hắt mặt gầy 
Cách mạng, tình đầu nắng chói 
Nước Cộng hòa một tuổi 
Chiến xa quân thù 
Như bóng đêm gầm gừ trở lại 
Tháng chạp bốn bề lửa khói 
Quyết tử quân ra đời 
Những công nhân máy đèn 
Thợ sắp chữ nhà in 
Vai áo dầu lem luốc 
Anh giáo tư rút rát 
Đưa bàn tay trắng trẻo nhận thanh gươm 
Anh sinh viên trường Thuốc ngang tàng 
Mang đến con dao giải phẫu 
Anh kéo đàn tiệm rượu 
Bác phở rong mũ dạ 
Ông thợ già bẻ ghi 
Những lưng áo suốt đời vá rách 
Những bàn tay suốt đời im lặng 
Linh hồn của Hà Nội thủ đô 
Những người phiêu bạt không nhà 
Bốc vác bến sông, gầm cầu nằm ngủ 
Gái nhảy, vú em, anh xe, chú tiểu 
Có kẻ lần đầu tiên được sống 
Có người ngỡ đời mình đã hết 
Trong khói thuốc chán chường 
Hôm nay ném bút bước ra đường 
Đứng vào chiến lũy 
Đã quá nhiều đêm nô lệ 
Nước Việt thân yêu giờ phút mất còn 
Già dặn hay măng tơ 
Chân đất hay cà-vạt 
Người theo đạo Tin Lành 
Người đọc mòn sách Khổng 
Và anh, người cộng sản 
Hôm xưa vượt ngục Hỏa Lò 
Dân phố chỉ biết tên 
Qua tấm hình truy nã 
Hôm nay ôm bom ba càng 
Đi hàng đầu dẫn tất cả xông lên 
Đục tường nhà nối lại mọi đời riêng 
Sáu mươi ngày quyết liệt 
Từng thềm gạch từng tấc đất 
Tiếng xung phong tiếng thét rung trời 
Địch từ Đồn Thuỷ kéo lên 
Từ Cửa Bắc xông ra 
Pháo đài Láng quân ta bắn xuống 
Cầu Gỗ, Hàng Đường, Cửa Nam, Hàng Bột 
Ô Cầu Rền, nhà thương Vọng, hãng dầu Sen 
Giặc máy bay xe tăng 
Ta súng trường chai cháy 
Giặc chiếm nhà ngoài, ta xông ra chiếm lại 
Giặc lên gác hai ta gỡ mái nhào vào 
Định ở Bắc Bộ Phủ 
Thực ở Giảng Võ 
Và bao người đã ngã xuống không tên 
Bác hàng rong chợ Đồng Xuân 
Vung đòn gánh đuổi quân thù quanh phản thịt 
Anh bán vé chết trong toa tàu điện 
Bác đưa thư già tóc bạc 
Trên thềm nhà bưu điện hy sinh 
Túi thư chưa kịp gửi khoác bên mình 
Tiểu đội nữ cứu thương 
Ngã xuống miệng còn ca hát 
Những cô gái Ngọc Hà, Lãng Bạc 
Những mẹ già Lai Xá, Thụy Khuê... 
Đêm nay ra đi 
Nhớ từng gương mặt 
Nhớ thằng em liên lạc 
Nhớ rạp hát Tố Như 
Nhớ đường phố cùng ta ngăn bước giặc 
Cho khắp nơi cuộc kháng chiến bắt đầu 
Nhớ khóm rau xanh bên những cành đào 
Trên chiến lũy mưa phùn ướt đẫm 
Đêm giao thừa khói trầm nghi ngút 
Đọc dòng thư, tất cả rưng rưng: 
"Các em quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh" 
Đôi mắt già Hồ thăm thẳm 

Sớm mai thành phố vào tay giặc 
Chúng nó đừng hòng khuất phục 
Hà Nội là của ta 
Một cột điện một mái nhà 
Một thằng bạn một thằng em 
Một sớm mai yên tĩnh 
Ai hát bài "Suối mơ" 
Tiếng xe chạy, tiếng rao quà 
Hà Nội lầm than, Hà Nội hào hoa 
Hà Nội đêm nay nhắc gọi 
Ra đi hôm nay để mãi mãi trở về... 
Mưa bay lồng lộng bờ đê 
Hà Nội nhòe trong nước mắt 
Tam Đảo sau lưng sừng sững 
Việt Bắc chiến khu bát ngát 
Hồng Hà cuồn cuộn réo sôi 

Chỉ xuống dòng sông đỏ rực 
Chúng ta thề sẽ trở về

 

 
Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết

  Ý kiến bạn đọc

  Ẩn/Hiện ý kiến

Mã chống spam   

Những tin mới hơn

 

Những tin cũ hơn

Thời điểm thi THPT QG

Bạn muốn tổ chức thi thử vào THPT QG khi nào?

Top