NHÀ THƠ THU BỒN

 - Người đăng bài viết: Thu Trang  - Chuyên mục :  Đã xem: 391 

DAYTOT.VN GIỚI THIỆU CHO CÁC EM NHÀ THƠ THU BỒN

 

NHÀ THƠ THU BỒN

Nhà thơ Thu Bồn (tên khai sinh là Hà Đức Trọng) sinh năm 1935 tại Điện Thắng, Điện Bàn, Quảng Nam, vừa được trao Giải thưởng Hồ Chí Minh về VHNT. Năm 1965, trường ca Bài ca chim Chơ Rao từ miền Nam gửi ra được in toàn bộ trên báo Văn nghệ, giới thiệu Thu Bồn với độc giả miền Bắc.

                                                  Nhà thơ Thu Bồn

Trường ca được đón nhận như một thành tựu thơ ca của miền Nam. Gần 40 năm đã trôi qua, Thu Bồn đã mở rộng sức hút sang nhiều thể loại. Ông có thơ ngắn, tiểu thuyết, nhưng trường ca vẫn là sở trường của ông.

 Trong đó Bài ca chim Chơ Rao vẫn được coi là thành công có tính định hướng cho phong cách tiêu biểu của ông. Đây là khúc ca lãng mạn ca ngợi lòng yêu tự do, ý chí bất khuất. Cốt truyện đậm màu sắc lãng mạn nhưng tính cách các nhân vật chân thật, hợp lôgich. Thu Bồn sử dụng tiếng hát như một biểu tượng của sức mạnh chân lý. Tiếng hát giúp ông mở rộng không gian trường ca: Từ không khí âm u của mấy dãy xà lim chết chóc ở Tây Nguyên, tiếng hát gợi hình ảnh quê hương miền xuôi, miền ngược. Ngòi bút Thu Bồn vốn phóng khoáng và gợi cảm được dịp tung hoành trong các khung cảnh hoành tráng, hành động, hùng vĩ, kỳ ảo. Hùng và Rin bị giặc thiêu sống trước đồng bào, trước rừng núi Tây Nguyên, Thu Bồn dựng một khung cảnh bi tráng: 
 

Ùn ùn ngọn lửa cao như núi 
Chúng chờ nghe những tiếng rên la 
Nhưng lạ lùng thay hai ngọn lửa 
Bỗng trầm hùng vang vọng khúc ca

Và một chi tiết sáng tạo như trong bi kịch Hy Lạp cổ xưa: Khi hai sợi dây trói đã cháy, hai người con Kinh Thượng ấy: 
 

Hai ngọn lửa đuốc rùng rùng tiến lại 
Hai vòng tay lửa gắn vào nhau

Thu Bồn có sức bút mạnh mẽ. Ông viết nhanh, viết nhiều, chất lượng khá đều. Ông hay trở lại với đề tài Tây Nguyên, vùng đất đánh thức trí tưởng tượng của ông từ tuổi bé thơ, khi bỏ cả ngày xuống chợ Thanh Quýt để xem người Thượng cưỡi voi về mua bán. Trong kháng chiến chống Pháp, ông sống với đồng bào Tây Nguyên, xúc động trước bao tấm gương hy sinh cao cả của đồng bào. Ông sử dụng nhuần nhuyễn các chất liệu Tây Nguyên, hơn thế ông kỳ ảo hoá, tạo thêm sức mê đắm hoang dại và thần kỳ. Những cuộc săn thú săn người trong Ba Dan khát kỳ lạ và lôi cuốn. Đất nước Campuchia hiền hoà tương phản gay gắt với hành động diệt chủng man rợ, quái đản của bọn Pôn Pốt. Chỗ xung đột gay gắt là chỗ Thu Bồn thường cất lên những cảm xúc mạnh mẽ, xây dựng các hình tượng có tầm vóc. Ông lựa chi tiết đặc tả rất có thần. Thủ đô Phnôm Pênh trong nạn diệt chủng: 
 

Những con chuột ăn gót chân người sống 
Những con mèo hoang bị chuột tha đi

Nét hùng vĩ của cảnh và người Tây Nguyên được hình tượng hoá: 
 

Quê hương lạnh đắp chăn bằng lửa 
Con đại bàng nhắm mắt ngủ trong mây

Cảnh chủ làng săn đuổi đôi trai gái (Ba Dan khát): dòng sông quặn lại/ Mặt trời đau mờ mịt dưới lòng sâu. Cảnh bà mẹ Chàm có đứa con bị giết đi tìm giết mẹ tên giết người. Những hành động bất ngờ của những tính cách mạnh mẽ giàu chất lãng mạn và giàu chất thơ mang tính nhân dân. 

Ở những bài thơ ngắn, Thu Bồn cũng viết bằng hơi trường ca. Không được kể chuyện thì ông dùng tình và tứ để biểu hiện. Trong những năm chiến tranh, Thu Bồn muốn mang thơ góp vào công tác tuyên truyền cổ võ chiến đấu, mỗi sự tích ông đều biến thành một đề tài. Cảm xúc và cả ý tưởng đều không theo kịp. 

Thu Bồn giờ đây đã vào tuổi bảy mươi. Những năm gần đây, thơ ông hướng về khám phá nội tâm, đúng hơn là chiêm nghiệm lại tháng ngày ông đã sống. Ông nhớ một miền quê thơ ấu, cái làng Phú Thạch, thị xã Tuy Hoà, những lam lũ vất vả một thời xưa. Ông nhớ Hà Nội, Nơi không xa cách được mà mình xa cách rồi. Ông nhớ mùa đông xứ Bắc áo bông rộng thênh thang những năm tập kết. Ông nhớ Những con người đi qua đời tôi chẳng bao giờ gặp lại. Ông phát hiện những lẽ đời sâu nặng trong những việc thường ngày. Đôi lúc thoáng qua cảm giác chua chát trước biến động của cuộc sống hôm nay. Ông chia sẻ và cảm thông sâu sắc với người nông dân sương nắng tự bao đời mà hôm nay vẫn còn sương nắng Ngày úp mặt xuống cánh đồng/ Đêm úp mặt lên hai cánh tay. Ông cảm nghe cuộc đời trôi nhanh, hoài bão ước mơ còn đầy ắp mà năm tháng cạn dần tới đáy. Thơ ông thâm trầm hơn nhưng vẫn đầy phóng khoáng. 
14-11-2001 
Vũ Quần Phương 

Thu Bồn mất ngày 17/6/2003. Các tác phẩm của ông: Bài ca chim Chơ Rao (trường ca, 1962), Tre xanh (thơ, 1969), Mặt đất không quên (thơ, 1970), Campuchia hy vọng (trường ca, 1978), Oran 76 ngọn (trường ca, 1979), Người vắt sữa bầu trời (trường ca, 1985), Thông điệp mùa xuân (trường ca, 1985), Một trăm bài thơ tình nhờ em đặt tên (thơ, 1992)... 

Các giải thưởng: giải văn học Nguyễn Đình Chiểu, giải thưởng văn học quốc tế của Hội Nhà văn Á Phi (1973), giải thưởng báo Hà Nội Mới (1969)...

(Nguồn: Thi viện)

 

THƠ THU BỒN

GỬI LÒNG CON ĐẾN CÙNG CHA

 

Kính tặng hương hồn Bác 

Có người thợ dựng thành đồng 
Đã yên nghỉ tận sông Hồng, mẹ ơi 
Con đi dưới một vòm trời 
Đau thương nhưng vẫn sáng ngời lòng tin 
Đã ngừng đập một quả tim 
Đã ngừng đập một cánh chim đại bàng 
Nỗi đau vô tận thời gian 
Nhớ thương nhưng chớ lệ tràn đẫm mi 
Hành trang Bác chẳng có gì 
Một đôi dép mỏng đã lì chông gai 
Cho con núi rộng sông dài 
Cho con lưỡi kiếm đã mài nghìn năm 
Cho con những ánh trăng rằm 
Có quà có bánh lời thăm ân tình 
Bác là Bác Hồ Chí Minh 
Qua lòng Bác thấu nghĩa tình bạn ta 
Nhẹ nhàng nên Bác đi xa 
Bác đi đi mãi vượt qua biên thuỳ 
Tiếc rằng trước lúc chia ly 
Con chưa thấy được dáng đi của Người 
Hẳn trong đôi mắt sáng ngời 
Vẫn nguyên vẹn một khoảng trời phương Nam 
Con qua Cẩm Lệ sông Hàn 
Ngũ Hành Sơn đứng mơ màng bóng Cha 
Hỡi Người những đất cùng hoa 
Tấm thân hai cuộc xông pha trường kỳ 
Hàng cây Bác đã xanh rì 
Bóng râm toả mát đường đi loài người 
Bác gieo giống bốn phương trời 
Một ngòi bút cũng sáng ngời lưỡi lê 
Bác nằm lòng trải ven đê 
Quả tim khuya sớm đi về miền Nam 
Bác đi dưới rặng dừa lam 
Bác đi tóc trắng vườn cam chín vàng 
Cầu treo lắt léo Bác sang 
Bác bước nhẹ nhàng như thuở còn trai 
Bác như ánh nắng ban mai 
Chiếu soi bãi rậm truông dài con đi 
Những hòn núi đá gan lì 
Sát vai đứng trụ dưới vì sao xanh. 
Những nòng súng thép long lanh 
Gạt sương rẽ lá băng nhanh dập dồn 
Bạn từ bãi biển Hirôn 
Bạn còn đến kịp để hôn Bác Hồ 
Mà con trông đợi Bác vô 
Ngắm phương Bắc nhớ Thủ đô quặn lòng 
Con xin gửi nắm đất nồng 
Chắn che giữ nước sông Hồng đương lên 
Cho con làm một mũi tên 
Xoè năm cánh nhọn giương trên thành đồng 
Việt Nam ơi giống Tiên Rồng 
Bốn nghìn năm lấy máu hồng làm hoa 
Gửi lòng con đến cùng Cha 
Chiến công đất nước kết hoa triệu vòng.


9-1969 

 

ORAN 76 NGỌN


 
Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết

  Ý kiến bạn đọc

  Ẩn/Hiện ý kiến

Mã chống spam   

Những tin mới hơn

 

Những tin cũ hơn

Thời điểm thi THPT QG

Bạn muốn tổ chức thi thử vào THPT QG khi nào?

Top