Bút chiến là gì ?

 - Người đăng bài viết: Thu Trang  - Chuyên mục :  Đã xem: 29 

Daytot.vn giới thiệu cho các em học sinh Thuật ngữ Bút chiến là gì ?

 

Bút chiến là gì ? 

 

Trong sinh hoạt văn hóa - nghệ thuật ở nước ta thời phong kiến, trước khi người Pháp qua, hầu như không có "bút chiến" trên văn - thi đàn, mà chỉ có "xướng họa", theo kiểu "thi thư chi giao"của những đôi "tri âm tri kỷ", của những nhóm nhỏ "tao nhân mặc khách" lập thành các văn - thi xã, văn - thi đàn, chủ yếu là "tầm chương trích cú" tụng ca, tâng bốc lẫn nhau theo hướng "phụ họa", "dĩ hòa vi quý", hay chỉ là “mèo khen mèo dài đuôi”, “con hát mẹ khen hay” …, rất ít tranh biện, phê phán ...

 

   Do thời đó, chuyện thư từ chậm chạp, nghề in ấn chưa phát triển, báo chí chưa có, chuyện "bút mực", "văn chương chữ nghĩa" chỉ dành cho một số ít thuộc tầng lớp sĩ phu trí thức Nho học, dân gian chỉ "yên phận" với văn chương truyền khẩu, ca dao, tục ngữ, hát nói đối đáp, hò - vè - ví - dặm ...

 

   Lê Thánh Tôn, vị vua anh minh bậc nhất Việt Nam, lập ra "Tao Đàn Nhị Thập Bát Tú", bản thân là Tao Đàn Nguyên Súy, cùng các quan trong triều xướng họa, ca ngợi đất nước thái bình, triều đại thịnh trị ... Vua quan dù thân mật đến mấy, cũng phải giữ đạo "Quân - Thần" ...

 

   Ta hãy xem một bài xướng họa tiêu biểu :

 

   Quân minh thần lương

   Lê Thánh Tôn

 

   Cao Đế anh hùng cái thế danh,

   Văn Hoàng trí dũng phủ doanh thành.

   Ức Trai tâm thượng quang khuê tảo,

   Vũ Mục hung trung liệt giáp binh.

   Thập Trịnh đệ huynh liên quý hiển,

   Nhị Thân phụ tử bội ân vinh.

   Hiếu tôn Hồng Đức thừa phi tự,

   Bát bách Cơ Chu lạc trị bình.

 

   Vua sáng tôi hiền ( Người dịch : nhóm Lê Thước )

 

   Cao đế anh hùng dễ mấy ai,

   Văn Hoàng trí dũng kế ngôi trời.

   Văn chương Nguyễn Trãi lòng soi sáng,

   Binh giáp Lê Khôi bụng chứa đầy.

   Mười Trịnh vang lừng nền phú quý,

   Hai Thân sáng rạng vẻ cân đai.

   Cháu nay Hồng Đức nhờ ơn trước,

   Cơ nghiệp Thành Chu vận nước dài.

 

   Phụng hoạ ngự chế "Quân minh thần lương"

   Thân Nhân Trung

 

   Thần công thánh đức diệu nan danh, 

   Phi tự quang thừa tập đại thành. 

   Úc úc Chu văn đôn lễ nhạc, 

   Hoàn hoàn Ân vũ cật nhung binh. 

   Phát huy lệ tảo hà vân lạn, 

   Tăng bí vi thần phụ tử vinh. 

   Ngưỡng tụng bất thăng minh cảm ý, 

   Thệ đàn trung xích tán long bình.

 

   Kính hoạ bài "Vua sáng tôi hiền" của vua ( Người dịch : Hùng Nam Yến )

 

   Công đức thánh thần khó tả thay, 

   Kế thừa nghiệp lớn rạng xưa nay. 

   Văn so Chu nọ, lễ nghi thịnh, 

   Võ sánh Ân kia, binh giáp đầy. 

   Chữ nghĩa phát huy mây ráng tỏ, 

   Cha con phụng sự đội ơn dày. 

   Kính xem thơ thánh lòng rung động, 

   Nguyện dốc trung kiên dựng nghiệp dài.

 

   Văn Nôm thì có Hồ Xuân Hương và Chiêu Hổ đối đáp "đanh đá", "huê tình"  :

 

   Đối :

 

   Ông đồ tỉnh, ông đồ say,

   Cớ sao ghẹo nguyệt giữa ban ngày ?

   Này này chị bảo cho mà biết,

   Chốn ấy hang hùm chớ mó tay !

 

   Đáp :

 

   Này ông tỉnh ! Này ông say !

   Này ông ghẹo nguyệt giữa ban ngày !

   Hang hùm ví bẵng không ai mó,

   Sao có hùm con bỗng trốc tay ?

 

   Lại cũng Hồ Xuân Hương, để "trả miếng" với các "hiền nhân quân tử" với chí  "tang bồng hồ thỉ", lăm le "chọc trời khuấy nước" mà chỉ biết đứng cười trêu chọc cái sự bị lỡ bị ngã của mình, bà đã "lên giọng" :

 

   Giang tay với thử trời cao thấp  

   Xoạc cẳng đo xem đất vắn dài.

 

   Những "vụ án văn chương" hầu như chỉ xảy ra gói gọn trong chuyện thi cử gian lận, phạm húy, "phản nghịch" ... ở chốn khoa trường ; chuyện tấu sớ "khi quân phạm thượng" ở chốn quan trường, cung cấm, ...

 

   Bảng Nhãn Lê Quý Đôn, một nhà bác học, một bậc huân thần, phải bị giáng chức, chuyển ra miền biên viễn, do án văn chương "gửi gắm" con là Lê Quý Kiệt gian lận thi cử ...

 

   Thời nhà Nguyễn, Tổng Trấn Bắc Thành Nguyễn Văn Thành, một bậc đại khai quốc công thần, phải lãnh lấy cái chết, do có con là Cử Nhân Nguyễn Văn Thuyên mang án văn chương làm thơ "phản nghịch" :

 

   Văn đạo Ái Châu đa tuấn kiệt,

   Hư hoài trắc tịch dục cầu ty.

   Vô tâm cửu bảo Kinh Sơn phác,

   Thiện tướng phương tri Ký Bắc kỳ.

   U cốc hữu hương thiên lý viễn,

   Cao cương minh phượng cửu thiên tri.

   Thử hồi nhược đắc sơn trung tế,

   Tá ngã kinh luân chuyển hoá ky.

 

   Dịch  là:

 

   Ái Châu nghe nói lắm người hay,

   Ao ước cầu hiền đã bấy nay.

   Ngọc phát Kinh Sơn tài sẵn đó,

   Ngựa kỳ Ký Bắc biết lâu thay.

   Mùi hương hang tối xa nghìn dặm,

   Tiếng phượng gò cao suốt chín mây.

   Sơn tể phen này dù gặp gỡ.

   Giúp nhau xoay đổi hội cơ này.

 

   Án văn chương này, có thể bản chất là do sự cạnh tranh quyền lực nơi cung đình và chốn quan trường ... 

 

   Tú Tài Cao Bá Quát, "Thánh Thi", dám bịt mũi chê "Tùng Vân Thi Xã" do hai vị Hoàng Thân Tùng Thiện Vương Miên Thẩm và Tuy Lý Vương Miên Trinh" lập ra :

 

   Ngán thay cái mũi vô duyên,

   Câu thơ Thi Xã, con thuyền Nghệ An.

 

   Tuy vậy, ông vẫn được hai vị Hoàng Thân này mến tài, mời tham gia Thi Xã ...

 

   Cao Bá Quát còn dám chê vua Tự Đức, một vị vua nổi tiếng hay chữ, cũng đã từng ban khen chính ông :

 

   Văn như Siêu, Quát vô Tiền Hán

   Thi đáo Tùng, Tuy thất Thịnh Đường.

 

là :

 

   Khù khờ thi tứ đa nhân thức  

   Khệnh khạng tương lai vấn tú tài.

 

   Cao Bá Quát còn dám chê và sửa lại câu đối của vua Tự Đức :

 

   Tử năng thừa Phụ nghiệp.

   Thần khả báo Quân ân.

 

thành :

 

   Quân ân Thần khả báo.

   Phụ nghiệp Tử năng thừa.

 

cho đúng cương thường ...

 

   Vua Tự Đức tuy giận, vẫn phải phục tài ...

 

   Do tính "ngông" nên Cao Bá Quát công danh lận đận, hoạn lộ lao đao, cuối cùng phải làm loạn mà chết :

 

   Bình Dương, Bồ Bản vô Nghiêu - Thuấn,

   Mục Dã, Minh Điền hữu Võ - Thang.

 

   Ngoài dân gian, lại cũng một cái ngã vô tình của một anh thầy đồ xứ nghệ đi hát ví ở đình, phía bên kia mấy o không bỏ lỡ cơ hội chế giễu, một o đọc :

 

   Tới đây đàn hát vui xuân,

   Cúi đầu lạy tạ trước sân làm gì ? 

 

   Rồi cả bọn cười ầm. Anh thầy đồ tuy thẹn đỏ mặt nhưng cũng nghĩ ngay được một câu đáp lại, bèn đứng dậy ngó lên trời rồi hắng giọng đọc :

 

   Đất đâu có đất lạ lùng,

   Bấm thì chẳng chịu, nằm cùng thì cho !

 

   Hay như Phan Bội Châu bị các o phường vải truy bí :

 

   Sách rằng Nghiêu hữu cửu nam

   Biết Đan Chu là một, hỏi tám chàng tên chi ?

 

đã đánh trống lảng và láu lỉnh vặn lại :

 

   Các em là phận nữ nhi

   Một Đan Chu là đủ hỏi mần chi những tám người ? 

 

và được các o gửi gắm tình cảm :

 

   Chung vui chung cả đò đầy

   Cho em chung mẹ chung thầy với anh.

  

Phan tuy cảm động trước tấm tình, nhưng tài trai chí cả, nợ nước hai vai, đành phải gửi gấm tâm sự qua câu hát đáp :

 

   Chung binh, chung tướng, chung vương

   Cùng anh chung cả tứ phương sơn hà.

 

...

 

 

   Chỉ từ khi bị thống trị bởi nền Dân Chủ "giả cầy" kiểu Pháp, tiếp thụ tư tưởng của những Rousseau, Montesquieu, Voltaire …, lấy cảm hứng từ những trào lưu Ấn Tượng, Tượng Trưng, Lãng Mạn …, với những Baudelaire, Rimbaud, Verlaine …, được hỗ trợ bởi công nghệ in ấn, xuất bản, báo chí ... dân Việt mình mới bắt đầu "bút chiến" thật sự trên văn đàn …

 

   Ta có thể thấy, một cách ngậm ngùi, Phan Văn Trị và giới sĩ phu miền Nam Huỳnh Mẫn Đạt, Lê Quang Chiểu, ...  đã "bút chiến" với Tôn Thọ Tường bằng những Từ Thứ Quy Tào, Tôn Phu Nhơn Quy Thục, Đĩ Già Đi Tu, Mười Bài Tự Thuật ... đối nhau "chan chát" ra sao …

 

   Xướng :

 

   Cật ngựa thanh gươm vẹn chữ tòng,

   Ngàn thu rạng tiết gái Giang Đông.

   Lìa Ngô bịn rịn chòm mây bạc,

   Về Hán trao tria mảnh má hồng.

   Son phấn thà đem dày gió bụi,

   Đá vàng chi để thẹn non sông.

   Ai về nhắn với Chu Công Cẩn :

   Thà mất lòng anh, đặng bụng chồng.

 

   Họa :

 

   Cài trâm sửa áo vẹn câu tòng,

   Mặt ngã trời chiều biệt cõi Đông.

   Khói tỏa trời Ngô in sắc bạc,

   Duyên về đất Thục đượm màu hồng.

   Hai vai tơ tóc bền trời đất,

   Một gánh cang thường nặng núi sông.

   Anh hởi Tôn Quyền anh có biết :

   Trai ngay thờ chúa, gái thờ chồng.

 

   Ta cũng có thể thấy, một cách đầy hứng khởi, các cuộc diễn thuyết, tranh luận "nảy lửa" giữa Thơ Cũ và Thơ Mới ...

 

   Phái Thơ Cũ không tiếc lời chỉ trích, chê bai Thơ Mới:

 

   Nghĩa lý vơ vơ rồi vẩn vẩn,

   Thanh âm ngẩn ngẩn lại ngơ ngơ.

   So với Á học như dưa đắng,

   Sánh với Âu văn tựa mít xơ ...

 

   Phái Thơ Mới cũng chế giễu khuôn mẫu sáo mòn của Thơ Cũ :

 

   Cây tươi tốt lá còn xanh ngắt,

   Bói đâu ra lác đác ngô vàng.

   Trên đường đi nóng dẫy như rang,

   Cảnh tuyết phủ mơ màng thêm quái lạ !

   ( Tú Mỡ )

 

   Nhưng dù sao cũng vẫn còn :

 

   Chút tình đồng nghiệp bảo cho nhau,

   Nhờ gió thổi đi mong cảm hóa !

   ( Tản Đà )

 

   Rồi bị bẻ lại :

 

   Phong Hóa mà không hóa nổi anh,

   Túy Nhân quả thật là nan hóa !

 

   Và Tản Đà đã "lên án chém" ông Phan Khôi vì bài "Cái Cười Của Con Rồng Cháu Tiên" một cách dí dỏm, khôi hài như thế nào …

 

   Cuộc "bút chiến" ấy kéo dài từ năm 1928 đến năm 1936 với sự thắng thế của Thơ Mới. Nhưng khi Thơ Mới đã thắng thế rồi, người ta bắt đầu nghĩ lại và cảm thấy ân hận về những điều đã làm trước đó. Tinh thần hoà giải đã dần dần xoá đi sự hiềm khích giữa hai phái Thơ Cũ và Thơ Mới. Bởi vì, về thực chất, đó chỉ là sự mâu thuẫn giữa hai mặt đối lập, là Cũ và Mới, trong một thể thống nhất, là Văn Học Việt Nam, Văn Hóa Việt Nam. Mà, mâu thuẫn là một hiện tượng khách quan luôn tồn tại và là động lực phát triển trong mỗi sự vật hiện tượng ...

 

   Và Hoài Thanh, khi viết "Thi Nhân Việt Nam", đã gọi đó là "Một Thời Đại Trong Thi Ca", và đã đặt Tản Đà, một Nhà Thơ Cũ, lên đầu sách, với tất cả lòng cung chiêu thành kính, trân trọng ...

 

   ... vv ...

 

   Rồi chủ nghĩa cộng sản du nhập, rồi cách mạng tháng tám, rồi kháng chiến chín năm, …

 

   Và ta có thể thấy, một cách đau thương, những Nhân Văn – Giai Phẩm, với Bùi Xuân Phái, Cao Xuân Huy, Chu Ngọc, Đào Duy Anh, Đặng Đình Hưng, Đỗ Đức Dục, Hoàng Cầm, Hoàng Công Khanh, Hoàng Huế, Hoàng Tích Linh, Hoàng Tố Nguyên, Hoàng Yến, Huy Phương, Hữu Loan, Hữu Thung, Lê Đại Thanh, Lê Đạt, Nguyễn Bính, Nguyễn Hữu Đang, Nguyễn Mạnh Tường, Nguyễn Thành Long, Nguyễn Tuân, Nguyễn Văn Tý, Như Mai, Phan Khôi, Phan Vũ, Phùng Cung, Phùng Quán, Quang Dũng, Sĩ Ngọc, Thanh Bình, Thụy An, Trần Công, Trần Dần, Trần Duy, Trần Đức Thảo, Trần Lê Văn, Trần Thiếu Bảo, Trần Thịnh, Trương Tửu, Tử Phát, Vĩnh Mai, Văn Cao, Yến Lan đã bị những "thi nô" như Tố Hữu, cấu kết với những "chính nô" như Trường Chinh, "tàn sát" ... ra sao …

 

   Ta cũng có thể thấy, một cách ngột ngạt, những Văn đã bị "Bộ Chính trị ra quyết nghị đưa gần 500 văn nghệ sĩ đi chỉnh huấn và phải "tự kiểm điểm", hơn 300 người còn phải ký tên quy thuận đường lối của đảng" ... như thế nào …

 

   … vv …

 

   Sau 1975, ta cũng có thể thấy, một cách đau đớn, những văn nghệ sĩ miền Nam đã phải đi "học tập cải tạo", "lao động cải tạo", "vượt biên" ra nước ngoài ... ra sao ...

 

   Ta cũng có thể thấy, một cách ngỡ ngàng, các văn nghệ sĩ miền Bắc "vỡ mộng", "uẩn ức", "lưu vong" ra nước ngoài ... như thế nào ...

 

   ... vv ...

 

   Rồi, ta cũng đã thấy, một cách hân hoan pha lẫn ngậm ngùi, "vào thời kỳ đổi mới, nhiều nghệ sĩ từng tham gia Nhân Văn-Giai Phẩm đã được phục hồi danh dự và được phong tặng các giải thưởng quan trọng, nhưng một số đã qua đời :

 

-   Giải thưởng Hồ Chí Minh : Giáo sư Cao Xuân Huy ( về khoa học xã hội, 1996 ) ; Nhà văn Nguyễn Tuân ( về văn học, 1996 ) ; Nhạc sỹ Văn Cao ( về âm nhạc, năm 1996 ) ; Họa sĩ Bùi Xuân Phái ( về hội họa, 1996 ) ; Nhà triết học Trần Đức Thảo ( về khoa học xã hội, năm 2000 ) ; Giáo sư Đào Duy Anh ( về khoa học xã hội, năm 2000 ) ; Nhạc sỹ Nguyễn Văn Tý ( về âm nhạc, năm 2000 ) ; Nhà thơ Nguyễn Bính ( về văn học, 2000 ).

 

-   Giải thưởng Nhà nước : Nhà thơ Quang Dũng ( về văn học, 2000 ). Tháng 2 năm 2007, 5 nhà văn thuộc Phong trào Nhân Văn-Giai Phẩm gồm Lê Đạt, Trần Dần, Phùng Quán, Yến Lan và Hoàng Cầm được Chủ tịch nước Việt Nam ký quyết định tặng thưởng giải thưởng Nhà nước.

 

   Trả lời phỏng vấn đài BBC ngày 22 tháng 02 năm 2007, nhà thơ Hoàng Cầm tỏ ý buồn rằng các bạn cũ như Trần Dần, Phùng Quán, Phùng Cung v.v. đã không còn sống để thấy giải thưởng hôm nay. Theo ông, thực tế là từ năm 1958 đến nay, tức là gần 50 năm, vụ Nhân Văn-Giai Phẩm mới "được giải tỏa", vì trước đó từ thời Đổi Mới, mọi thứ được bắt đầu phục hồi nhưng không công khai. Cùng ngày, khi trả lời phỏng vấn báo điện tử VietnamNet, nhà thơ Lê Đạt nói : "Tôi nghĩ chuyện giải thưởng này như một câu của ông Đỗ Chu ( thành viên của Hội đồng Giải thưởng chuyên ngành Văn học ) đã phát biểu: "Có thể cho đây là lời xin lỗi của anh em đối với các anh". Giải thưởng này là cử chỉ đẹp, cho dù là muộn, nhưng muộn còn hơn không".


 
Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết

  Ý kiến bạn đọc

  Ẩn/Hiện ý kiến

Mã chống spam   

Những tin mới hơn

 

Những tin cũ hơn

Thời điểm thi THPT QG

Bạn muốn tổ chức thi thử vào THPT QG khi nào?

Top