BỐI CẢNH LỊCH SỬ CỦA NỀN VĂN HỌC CUỐI THẾ KỶ 18 ĐẦU THẾ KỶ 19

 - Người đăng bài viết: Thu Trang  - Chuyên mục :  Đã xem: 19 

Daytot.vn giới thiệu tới các em HS BỐI CẢNH LỊCH SỬ CỦA NỀN VĂN HỌC CUỐI THẾ KỶ 18 ĐẦU THẾ KỶ 19

 

BỐI CẢNH LỊCH SỬ CỦA NỀN VĂN HỌC CUỐI THẾ KỶ 18 ĐẦU THẾ KỶ 19

 1.1.1. Chế độ phong kiến Việt Nam bước vào thời kỳ khủng hoảng, suy vong trầm trọng

           -Chế độ phong kiến Việt Nam cực thịnh vào thế kỷ XV. Sang thế kỷ XVI, XVII chế độ này đã bộc lộ những dấu hiệu của sự suy yếu. Mầm mống của cuộc khủng hoảng nội bộ đã xuất hiện. Ðây là hai thế kỷ nội chiến phong kiến.

          -Ðến nửa cuối thế kỷ XVIII, nửa đầu thế kỷ XIX thì sự suy yếu này không còn là dấu hiệu nữa. Có thể nói chế độ phong kiến Việt Nam đã bước vào thời kỳ khủng hoảng, suy vong trầm trọng, chuẩn bị cho sự sụp đổ toàn diện của chế độ này vào cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX. Sự khủng hoảng này được bộc lộ trên nhiều phương diện nhưng nổi bật nhất là tính chất thối nát, suy thoái trong toàn bộ cơ cấu của chế độ phong kiến .

           +Kinh tế: Thành phần kinh tế chính của đất nước giai đoạn này vẫn là kinh tế nông nghiệp. Nền kinh tế này bị đình đốn. Kinh tế sản xuất hàng hóa cũng bị kìm hãm. .       

                      + Chính trị: Như một quy luật, kinh tế đình đốn thường dẫn đến sự hỗn loạn về chính trị. Những mâu thuẫn vốn có, chứa chất lâu ngày trong lòng chế độ phong kiến Việt Nam  đến đây đã có dịp bùng nổ dữ dội.

           + Văn hóa: Nhà Nguyễn cấm dùng chữ Nôm, cấm đoán về mặt tư tưởng rất nghiệt ngã.

* Tóm lại, giai đoạn nửa cuối thế kỷ XVIII, nửa cuối thế kỷ XIX chế độ phong kiến Việt Nam lâm vào tình trạng khủng hoảng sâu sắc. Sự khủng hoảng này còn được biểu hiện ở sức trỗi dậy mãnh liệt với một khí thế chưa từng có của phong trào nông dân khởi nghĩa.

                    1.1.2. Nhân dân vùng lên mãnh liệt có lúc giành được thắng lợi vẻ vang nhưng rồi lại thất bại.

-Giai đoạn này được mang vinh hiệu là Thế kỷ nông dân khởi nghĩa. Có thể nói đây là thời kỳ đấu tranh liên tục, mạnh mẽ, rộng khắp của quần chúng mà chủ yếu là nông dân.

          +Tính chất mạnh mẽ thể hiện ở chỗ có những cuộc khởi nghĩa tập trung hàng vạn người, kéo dài hàng chục năm như cuộc khởi nghĩa của Nguyễn Hữu Cầu (1741-1751); cuộc khởi nghĩa của Nguyễn Danh Phương ( 1740-1750); cuộc khởi nghĩa của Hoàng Công Chất (1736-1769)

          +Tính chất rộng khắp thể hiện ở chỗ các cuộc khởi nghĩa nổ ra khắp mọi miền đất nước.

-Ðỉnh cao của phong trào khởi nghĩa lúc này là cuộc khởi nghĩa Tây Sơn  Cuộc khởi nghĩa này đã dành được những thắng lợi vẻ vang: Ðánh đổ ba tập đoàn phong kiến thống trị trong nước; đánh tan hơn hai mươi vạn quân Thanh xâm lược , lập nên một vương triều phong kiến mới với nhiều chính sách tiến bộ .Nhưng đáng tiếc là Quang Trung chỉ ở ngôi được mấy năm. Sau khi Quang Trung mất, nhà Tây Sơn lại trở nên lục đục. Nhân cơ hội ấy, Nguyễn Aïnh đã trở lại tấn công nhà Tây Sơn, lập nên triều đại nhà Nguyễn (1802). Triều Nguyễn là một tân triều, nhưng triều Nguyễn không đại diện cho cái mới. Buổi đầu, để củng cố địa vị thống trị của mình nhà Nguyễn còn thực hiện được một số chính sách tiến bộ nhưng càng về sau nhà Nguyễn càng đi vào con đường phản động để rồi trở thành một triều đại phản động nhất trong các triều đại phong kiến Việt Nam. Vì thế dưới triều Nguyễn các cuộc khởi nghĩa của nông dân vẫn liên tiếp xảy ra.

-Tuy nhiên khởi nghĩa nông dân trong hoàn cảnh của xã hội đương thời không thể đi đến thắng lợi hoàn toàn và triệt để. Khởi nghĩa của nông dân chỉ mới là động lực thúc đẩy xã hội phát triển chứ chưa thể làm thay  đổi chế độ xã hội.

1.1.3.Lực lượng thị dân trong giai đoạn suy tàn của chế độ phong kiến

- Nền kinh tế hàng hóa vốn xuất hiện từ thế kỷ XVI, thế kỷ XVII đã có nhiều bước phát triển đáng kể, đến giai đoạn này lại bị nhiều chính sách kinh tế phản động của chính quyền phong kiến kìm hãm cho nên nó chưa phát triển thành một cơ cấu kinh tế mới để rồi tạo ra một giai cấp tư sản, nhưng cùng với sự đi lên của thành phần kinh tế này thì tầng lớp thương nhân, thợ thủ công ngày càng đông đảo tập trung ở các thương cảng, đô thị.

-Tầng lớp này do sinh hoạt kinh tế của họ đã li khai phần nào với quan hệ sản xuất phong kiến, cuộc sống của họ là cuộc sống đi đây đi đó nhiều, giao tiếp rộng rãi kể cả giao tiếp với người nước ngoài cho nên về mặt tư tưởng, tình cảm, họ trở nên phóng khoáng hơn người nông dân vốn bị trói buộc vào làng quê, hơn cả nho sĩ vốn bị rập khuôn theo trăm nghìn thể chế, giáo điều chính thống cứng nhắc. Sự có mặt của tầng lớp này cũng đã tạo ra những làn gió mới lan tỏa vào đời sống tư tưởng, tinh thần thời đại.

*Tóm lại: lịch sử dân tộc ta giai đoạn này là lịch sử đau thương nhưng quật khởi, có bi kịch nhưng cũng có anh hùng ca. Nhìn về phía giai cấp thống trị là cả một sự sụp đổ, tan rã toàn diện của kỷ cương, của lễ giáo phong kiến, của bộ máy quan liêu và nói chung là của toàn bộ cơ cấu xã hội.

Song nhìn về phía quần chúng thì đây là thời kỳ quật khởi, thế kỷ bão táp của các phong trào nông dân khởi nghĩa, thời đại đấu tranh tháo cũi sổ lồng.

Trải qua nhiều biến động nhưng cuối cùng xã hội Việt Nam vẫn lâm vào tình trạng bế tắc không lối thoát. Tuy vậy phong trào đấu tranh rầm rộ của quần chúng liên tiếp nổ ra trong suốt thế kỷ cũng đã làm bùng dậy nhiều khát vọng lành mạnh, làm quật cường thêm tinh thần dân tộc, tinh thần đấu tranh chống áp bức, bóc lột, cổ vũ cho sự vươn dậy của tài năng, trí tuệ của con người.          

2.Sự phá sản nghiêm trọng của ý thức hệ phong kiến và sự trỗi dậy của tư tưởng nhân văn của thời đại.

TOP

                    1.2.1.Sự phá sản nghiêm trọng của ý thức hệ phong kiến

-Giai cấp phong kiến Việt Nam vốn lấy Nho giáo làm ý thức hệ chính thống, lấy Nho giáo làm quốc giáo, dựa vào Nho giáo để thống trị nhân dân. Trong mấy thế kỷ trước, khi chế độ phong kiến đang đi lên thì Nho giáo có uy lực của nó. Nhưng đến thời kỳ này chế độ phong kiến đã bước vào thời kỳ suy vong, khủng hoảng thì Nho giáo cũng bị đả kích, bị lung lay dữ dội.

          +Nguyên nhân: Sự phá sản này chủ yếu phát sinh từ sức công phá của trào lưu tư tưởng nhân văn của thời đại và từ hàng ngũ giai cấp thống trị kẻ đã khẳng định, tôn sùng và nuôi dưỡng ý thức hệ này. 

+Biểu hiện: Những cái được gọi là tam cương, ngũ  thường của Nho giáo đều bị sụp đổ một cách thảm hại.     

+Sự sụp đổ cuả ý thức hệ nho giáo có hưởng đến tầng lớp nho sĩ-lực lượng sáng tác văn học của thời đại.

Sống trong thời đại Nho giáo bị sụp đổ thảm hại như vậy, một tầng lớp nhà nho chân chính bị khủng hoảng về mặt lý tưởng. Họ không tìm ra con đường đi, họ hoang mang trước thời cuộc.Một số nhà nho bị bế tắc thực sự, Nguyễn Du đã từng thốt lên:

                                       Tráng sĩ bạch đầu bi hướng thiên

                                         Hùng tâm sinh kế lưỡng mang nhiên

                                         Xuân lan thu cúc thành hư sự

                                         Hạ thử, đông hàn đoạt thiếu niên

                                                                       (Tạp thi)

Họ mất hết niềm tin vào chính quyền, vào minh chúa. Số đông đã lui về ở ẩn, hoặc đang làm quan lui về ở ẩn để giữ gìn khí tiết, nhân cách của mình.                   

1.2.2.Sự trỗi dậy cuả truyền thống nhân văn.

-Trong khi Nho giáo bị sụp đổ như vậy thì một khuynh hướng tư tưởng, bảo vệ, khẳng định quyền sống  và giá trị, phẩm chất con người đã phát triền thành một khuynh hướng mạnh mẽ.

-Cơ sở xã hội, tư tưởng của khuynh hướng này:

          +Cơ sở xã hội: Ðó là phong trào đấu tranh mạnh mẽ của quần chúng bị áp bức mà chủ yếu là của nông dân chống phong kiến đã liên tiếp nổ ra trong suốt thế kỷ.

          +Cơ sở tư tưởng: Ðó là sự sụp đổ cuả ý thức hệ Nho giáo. Phật giáo, Ðạo giáo lại phát triển, tư tưởng thị dân hình thành, tất cả đã có ảnh hưởng  đến sự kết tinh cuả truyền thống nhân văn cuả dân tộc.

Những biểu hiện của khuynh hướng, tư tưởng nhân văn trong văn học sẽ là sự lên án, tố cáo hiện thực cuộc sống đương thời chà đạp lên quyền sống của con người; đấu tranh đòi cuộc sống cơm áo; phát triển cá tính; giải phóng tình cảm, bản năng; là thái độ ca ngợi những phẩm chất tốt đẹp của con người; là thái độ đồng tình, xót thương, thông cảm của các tác giả đối với các  nạn nhân của xã hội.

          1.3.Sự phát triển rực rỡ của nền văn hóa dân tộc

Ðây là giai đoạn nền văn hóa dân tộc phát triển khá mạnh, khá đều khắp, một số ngành đã đạt được những thành tựu xuất sắc.

-Thành tựu:

          +Khoa học xã hội: Ngành nghiên cứu lịch sử, địa lý phát triển khá mạnh với hai học giả nổi tiếng: Lê Quí Ðôn và Phan Huy Chú.

          +Khoa học tự nhiên: Nổi bật nhất là ngành y với nhà y học nổi tiếng Lê Hữu Trác.

            +Các ngành văn học, nghệ thuật: Chèo ở Ðàng Ngoài, tuồng ở Ðàng Trong phát triển; văn học chữ Nôm phát triển mạnh, những tác phẩm có giá trị cuả giai đoạn này đều được sáng tác bằng chữ Nôm; kiến trúc tôn giáo, nghệ thuật điêu khắc có nhiều thành tựu.

-Một số đặc điểm của nền văn hoá:

          +Trước hết đó là tinh thần duy lý trong quan điểm và phương pháp biên soạn. Việc tiếp nhận văn hóa  Trung  quốc thoát li tính chất nô lệ, sùng ngoại để đi vào khuynh hướng tiếp nhận sáng tạo tinh hoa của văn hóa nước ngoài.Ðó là phương pháp biên soạn sách của Lê Quí Ðôn trọng thực tiễn, óc phán đoán suy luận khá chặt chẽ.

          +Tinh thần dân tộc: Biểu hiện ở thái dộ nhìn nhận, đánh giá lịch sử dân tộc, văn hóa dân tộc. Lê Quí Ðôn trong Toàn Việt thi lục lệ ngôn đã viết: Nước Việt Nam từ khi mở cõi văn minh không thua kém gì Trung Hoa. Tinh thần ấy còn thể hiện ở hoài bão xây dựng một lá cờ cho y giới nước nhà (Lê Hữu Trác).

*Tóm lại: Những thành tựu rực rỡ của nền văn hóa với những đặc điểm riêng của nó là sản phẩm tinh thần của hoàn cảnh lịch sử nói trên.


 
Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết

  Ý kiến bạn đọc

  Ẩn/Hiện ý kiến

Mã chống spam   

Những tin mới hơn

 

Những tin cũ hơn

Thời điểm thi THPT QG

Bạn muốn tổ chức thi thử vào THPT QG khi nào?

Top