SỬ THI ĐĂM SĂN

 - Người đăng bài viết: Thu Trang  - Chuyên mục :  Đã xem: 83 

Các em hãy cùng Daytot tìm hiểu THUẬT NGỮ SỬ THI ĐĂM SĂN

 

Sử thi Đam San có 7 chương khúc tóm tắt như sau:1- Chị em Hơ Nhí và Hơ Bhí theo luật tục chuê- nuê đòi lấy Đam San làm chồng Đam San không chịu.2- Đam San bỏ về nhà chị là Hơ Aâng Trời làm anh chết đi sống lại nhiều lần và anh tự thân cứu được Hơ Nhí anh chịu thành hôn với hai người.3- Tù trưởng Mtao Grư (tù trưởng Ó) cướp Hơ Nhí. Đam San đánh lại giành được vợ bắt làm tù binh.4. Đam San đi phát rẫy dọn ruộng Mtao Mxây (tù trưởng Sắt) lại cứơp vợ anh anh giết được kẻ thù thành một tù trưởng giàu mạnh.5. Đam San chặt cây thần. Cây đổ hai chị em Hơ Nhí và Hơ Bhí chết Đam San lên trời toan chém đầu trời được Trời bày phép làm cho vợ sống lại.6. Đam San đi bắt Nữ thần Mặt Trời về làm vợ bị từ chối. Anh chết chìm trong rừng đất nhão.7. Vía của Đam San hoá thành con ruồi bay vào miệng Hơ Aâng Hơ Âng thụ thai sinh được một con trai cũng đặt tên là Đam San. Đó là Đam San cháu gọi  Đam San đã mất là cậu. Đam San cháu tiếp tục nối dây với chị em Hơ Nhí và Hơ Bhí.
- Thiên sử thi miêu tả những chiến công oanh liệt và khát vọng tự do của một tù trưởng trẻ tuổi tài năng lỗi lạc tên là Đam San. Theo một tập tục hôn nhân cổ- tập tục “nối dây” (tục chuê nuê) [1] thì Đam Sam buộc phải lấy hai chị em Hơ Nhí và  Hơ Bhí khi chàng đã có người yêu. Đam San được hưởng gia tài của vợ. Đam San lại đánh thắng nhiều tù trưởng thù địch khác cướp được nhiều của cải súc vật bắt được nhiều nô lệ và trở thành một tù trưởng giàu mạnh nhất vùng. Nhưng Đam San còn được muốn giàu mạnh hơn nữa: chàng cưỡi ngựa lên trời định bắt nữ thần Mặt trời về làm vợ. Do hành động ngông cuồng này Đam San cả người lẫn ngựa bị lún xuống bùn chết ngập trong rừng Sáp đen. Hồn Đam San đầu thai vào người chị ruột của mình để rồi lại tiếp tục làm chồng dòng họ Hơ Nhí. Đam Sam là một nhân vật  anh hùng thuộc kiểu anh hùng thời thị tộc- bộ lạc. Những hành động và chiến công của Đam San trong thiên anh hùng ca dân gian này xoay quanh 2 chủ đề chính. Thứ nhất là chủ đề đấu tranh để thoát khỏi những ràng buộc của một tập tục hôn nhân theo chế độ mẫu quyền (tục chuê-nuê). Ở chủ đề này cuộc đấu tranh của Đam San được miêu tả với nhiều mâu thuẩn phức tạp. Theo tập tục “nối dây” còn tồn tại khá rõ trong xã hội người Ê Đê thời cổ cuộc hôn nhân giữa Đam San với Hơ Nhí và Hơ Bhí đã được định sẵn từ trước. Khi Hơ Nhí còn nhỏ bà của Hơ Nhí chết Hơ Nhí phải thay bà lấy ông. Oâng Hơ Nhí đã nói với Hơ Nhí rằng sau này Hơ Nhí sẽ lấy Đam San. Mở đầu thiên sử thi là cảnh bên nhà gái đến nhà Đam San hỏi chồng cho Hơ Nhí Hơ Bhí. Đam San cưỡng lại song trời đã “chống gậy hèo” đến thu xếp việc cưới hỏi. Đam San phải khuất phục trước sức mạnh của tập tục. Song từ khi về nhà vợ chàng vẫn  tiếp tục có những hành động chống đối lại cuôïc hôn nhân ấy. Chàng trễ nải công việc nhà vợ không chăm sóc vợ và bỏ về nhà chị ruột. Hành động tiêu biểu và có tính chất tượng trưng nhất cho sự chống đối này là việc Đam San đốn cây thần Smuk một thứ cây thần cây “linh hồn cây tổ tiên” cây “sinh ra Hơ Nhí Hơ Bhí” đã hai lần chết. Nhưng những hành động chống đối của Đam San đã không dẫn đến kết quả phá vỡ cuộc hôn nhân ấy. Một mặt bởi vì sức mạnh của tập tục còn quá lớn. Một mặt cuộc hôn nhân ấy cũng đồng thời đem lại cho chàng những quyền lợi và một địa vị mong muốn: chàng được hưởng gia tài của vợ và trở thành một tù trưởng giàu có hùng mạnh “chân không phải đi xuống đất” “có nhiều voi nhiều tôi tớ”. Hơn nữa ở chàng cũng bộc lộ những tình cảm gắn bó với những người vợ xinh đẹp đáng yêu. Khi vợ chết vì những hành động của chính chàng chàng đã khóc “từ sáng đến tối từ tối đến sáng” thương tiếc “người mà thần linh cho chàng” để chàng có người “nấu cơm sắm thức ăn dệt khố áo”. Chàng đã tha thiết xin thần linh cho chàng phép làm vợ sống lại vì như chàng nói: “Tôi là lá đa tôi quyến luyến với cây đa”. Những tình tiết đó của thiên sử thi cho thấy rõ tính chất phức tạp đầy mâu thuẫn của cuộc đấu tranh chống tập tục “nối dây” của Đam San chứng tỏ Đam San vẫn chưa thoát khỏi sự ràng buộc của chế độ mẫu quyền. Đáng chú ý là đoạn kết của thiên sử thi với hiện tượng “Đam San cháu” (con trai Hơ Aâng- chị ruột Đam San ) giống hệt “ Đam San cậu” và với cảnh anh em họ hàng Hơ Nhí đến nhà “Đam San cháu” hỏi chồng cho Hơ Nhí lặp lại gần giống như cảnh mở đầu của thiên sử thi. Đoạn kết này rất tiêu biểu về mặt phản ánh sức mạnh của tập tục và những mâu thuẩn trong tư tưởng của tác giả dân gian khi miêu tả cuộc đấu tranh của Đam San để thoát khỏi những ràng buộc của chế độ mẫu quyền nhằm vươn tới một cuộc sống tự do phóng khoáng và khẳng định vai trò của người đàn ông trong xã hội cũ.Chủ đề thứ hai của thiên sử thi là đấu tranh chống những tù trưởng thù địch để bảo vệ cuộc sống và mở rộng địa bàn cư trú của bộ tộc. Ở chủ đề này thiên sử thi đã miêu tả những chiến công oanh liệt của Đam San trong hai trận đánh thắng hai tù trưởng mạnh tên là Mơtao Grư (tù trưởng Ó) và Mơ tao Mxây (tù trưởng Sắt). Hai tù trưởng này gây ra cuộc chiến tranh nhằm tranh giành ảnh hưởng với Đam San cướp vợ và bắt gia đình bộ tộc Đam San phải lệ thuộc vào mình. Do thắng được hai tù trưởng bộ tôïc của Đam San đã trở nên giàu mạnh hơn bao giờ hết: “Trong nhà người ta đi lại chen chúc nhau vai sát vai vú sát vú trong lòng ai cũng hoan hỉ vì có người tù trưởng thật oai hùng có không biết cơ man nào là chiêng đồng là voi nhà là rừng núi đã từng đánh thắng không biết bao nhiêu là địch. Oai linh vang đến tận các thần núi từ phía Đông cho tới phía Tây”. Nhưng Đam San vẫn  chưa vừa lòng với những chiến công lừng lẫy của mình. Chàng đã có một ý muốn vượt tầm thời đại là tìm đường lên trời chiếm lấy nữ thần Mặt trời về làm vợ. Chàng đã chết vì ý muốn ấy. Cái chết của Đam San phần nào mang ý nghĩa  bi kịch vì cái chết ấy mâu thuẩn giữa khát vọng vô bờ với khả năng hữu hạn của người anh hùng.Thiên anh hùng ca Đam San đã phản ánh những nét hiện thực xã hội tiêu biểu của dân tộc Ê Đê trong một thời kì lịch sử mà các quan hệ thị tộc –bộ lạc và tàn dư của chế độ mẫu quyền còn đang phổ biến. Đam San đại diện cho một lực lượng mới đang lên khi chế độ phụ quyền đang dần thay thế cho chế độ mẫu quyền nhưng chưa hoàn toàn chiếm được ưu thế. Đồng thời cũng là hình ảnh lí tưởng của nhân dân về một người tù trưởng có khả năng chiến đấu bảo vệ và mở rộng địa bàn cư trú của bộ tộc. Người anh hùng ấy cùng với các sự kiện trong đời sống lịch sử xã hội ấy của dân tộc đã được miêu tả với nhiều nét phóng đại tượng trưng và giàu màu sắc thần thoại. Đây là một tác phẩm  thuộc thể loại sử thi anh hùng ca dân gian. Người Ê Đê gọi sử thi này là khan có nghĩa là một thể loại truyện kể bằng văn vần có xen lẫn kể xuôi khi diễn xướng có sử dụng hình thức đối đáp và đôi khi kèm theo điệu bộ. Thể loại này cũng thấy phổ biến trong một số dân tộc khác ở Tây Nguyên như dân tộc Gia-rai (tiếng dân tộc gọi là akhan) Ba-na (tiếng dân tộc gọi hơmon ) dân tộc Cadong (tiếng dân tộc gọi là hơmuôn)…- Về trích đoạn “Đam San đi bắt Nữ thần Mặt trời”.Đây là đoạn trích thể hiện rõ nhất 2 chủ đề của sử thi Đam San và nêu bật được phẩm chất anh hùng của người anh hùng sử thi: anh hùng Đam San. Đi bắt con gái thần Mặt trời về làm vợ Đam San muốn vươn đến khát vọng cao nhất: khẳng định vị thế của người đàn ông trong hạnh phúc hôn nhân uy danh cùng của cải cho bản thân và cộng đồng một điều kiện sống lí tưởng cho con người với thiên nhiên dịu hoà tươi tốt. Đam San thành biểu tượng cho lòng dũng cảm ý chí vươn lên không ngừng của các dân tộc Tây Nguyên.
* Khi phân tích người anh hùng sử thi- khan   cần biết những đặc điểm thẩm mỹ của người anh hùng sử thi - khan là:1.      Người anh hùng trước hết phải đẹp và lịch sự2.      Người anh hùng tài giỏi khoẻ mạnh nhiều mặt3.      Người anh hùng có đức tính cơ bản là dũng cảm4.      Người anh hùng phải bách chiến bách thắng5.      Người anh hùng trên tất cả phải giàu có và sang trọng 
Gợi ý phân tích: 
+ Đoạn trích có thể  được chia làm 2 phần lớn theo hành động của Đam San:- Phần đầu: từ “Đam San nghỉ một ngày …”  đến  “… Rừng Bà Sun Y Rít sẽ bắt đầu động đấy”. Quyết tâm đi bắt Nữ Thần Mặt trời của Đam San.- Phần 2: Đoạn còn lại. Đam San thể hiện phẩm chất anh hùng của mình. + Động cơ mục đích của hành động là một căn cứ quan trọng để đánh giá phẩm chất anh hùng sử thi của nhân vật. Động cơ mục đích đi bắt Nữ thần Mặt trời về làm vợ của Đam San là: trở thành một tù trưởng giàu có vô song uy danh lừng lẫy. Điều đó thể hiện qua đoạn đối thoại giữa Đam San với Hơ Nhí và với Nữ thần Mặt trời.+ Các nhân vật  phụ Hơ Nhí Tăng Măng và Đam Pác Quây góp phần làm nổi bật tính cánh nhân vật chính. Phân tích đoạn đối thoại giữa Đam San với  họ.+ Sự thất bại của Đam San là tất yếu của thời đại: đấy là cái chết của một nhân vật  anh hùng.- Về trích đoạn “Chiến thắng Mtao Mxây”.Như ta đã biết trong đề tài chiến tranh ở sử thi thì người  anh hùng sử thi chiến đấu với các tù trưởng thù địch trước hết là vì những mục đích riêng: để đòi nợ (như sử thi Đam Thi) để trả thù cho người  thân (như sử thi Xinh Nhã) để giành lại vợ bị tù trưởng buôn làng khác cướp đoạt (như sử thi Đam San).. đồng thời cũng là để bảo vệ cuộc sống yên lành của buôn làng. Khi chiến thắng buôn làng của người  anh hùng trở nên giàu có cường thịnh hơn lên. Do vậy chiến công và sự nghiệp anh hùng của nhân vật trung tâm trong sử thi là niềm tự hào là lí tưởng xã hội của toàn thể cộng đồng.Các tình tiết chính của đoạn trích đã có dịp đề cập ở trên (từ tình tiết 1 đến 15).Để phân tích đoạn trích cần làm rõ vai trò của từng nhân vật chính:+ Nhân vật Mtao Mxây là nhân vật đối thủ nguyên nhân gây chiến tranh.+ Nhân vật Đam San là nhân vật trung tâm quyết định cho sự diễn biến của cốt truyện lôi cuốn các nhân vật quần chúng.+ Nhân vật Oâng Trời và Hơ Nhị là nhân vật trợ thủ cho Đam San. Oâng trời là nhân vật trợ thủ thần kì. Hơ Nhị là người  trao vật thần kì (miếng trầu) cho ĐAM San. Thể hiện quan niệm về cuộc chiến tranh chính nghĩa.+ Nhân vật quần chúng vừa đóng vai trò hậu thuẫn cho nhân vật chính vừa bị lôi cuốn bởi sức mạnh và mục đích của cuộc chiến đấu của nhân vật chính. Sức mạnh và lí tưởng của cá nhân người  anh hùng biểu trưng cho sức mạnh và lí tưởng của cộng đồng.  1.3. Sử thi Đẻ đất đẻ nước (trích)- Đọc thêm bắt buộc- Đẻ đất đẻ nước (dài 4.629 câu gồm 26 rằng (chương khúc) là một sử thi thần thoại bao quát những vấn đề cơ bản  thường thấy ở các thần thoại suy nguyên. Màu sắc thần thoại xuyên thấm toàn bộ tác phẩm từ cách nhìn thế giới đến hệ đề tài và trí tưởng tượng thơ ca. Tác phẩm  này xứng dáng được coi  là hiện tượng đặc biệt của sử thi cổ đại phương Đông và thế giới.  Trích đoạn “Đẻ nước” thuộc rằng thứ ba trong 26 rằng của tác phẩm  Đẻ đất đẻ nước. Rằng Đẻ nước diễn tả nội dung: Trời lại nắng hạn mặt đất nứt nẻ xác xơ suối cạn đồi khô “khô cằn khô cỗi”. Nắng “chín tháng” “mười hai năm” nung gãy sừng hươu và nứt vỡ cả mai ba ba. Ông Pồng Pêu (thần Nước) ngồi đan lưới đan chài ở bên cửa sổ khi đó “trông ra ngoài ngõ trông lên trên trời” mà thương xót trần gian ông Pồng Pêu cầu mưa. Một cuộc đẻ nước diễn ra: “Mưa dầm dềø chín đêm mười bữa sáng Mưa rào rào chín bữa sáng mười đêm. Mưa từ chân trời này Mưa sang chân trời nọ”. Trận đại hồng thuỷ ấy “Bốn tháng nước rút Bảy tháng nước xuôi”. Chúng ta đã biết trước  cuộc đẻ nước là vũ trụ hỗn mang và cuộc đẻ đất sau cuộc đẻ nước là các cuôïc đẻ cây si thần đẻ mường đẻ người…- Khái niệm “đẻ” ghép với các sự vật hiện tượng như đất và nước chứa đựng một quan niệm đầy vẻ nguyên sơ thô dã. Người Mường cổ cũng như các dân tộc cổ khác đều cho rằng mọi sự vật hiện tượng cũng như con người đều do một cái gì đó chửa đẻ mà thành. Con người sinh con đẻ cái còn những “ông thần kia bà thần nọ” thì đẻ ra cả vũ trụ mênh mông cả quả đất khổng lồ và cả vạn vật. Con người biết ơn các vị thần linh. Tựa đề “đẻ nước” về mặt tư tưởng còn bộc lộ môït triết lí duy vật của con người thời thái cổ. 


 
Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết

  Ý kiến bạn đọc

  Ẩn/Hiện ý kiến

Mã chống spam   

Những tin mới hơn

 

Những tin cũ hơn

Thời điểm thi THPT QG

Bạn muốn tổ chức thi thử vào THPT QG khi nào?

Top