NỘI DUNG CỦA CA DAO LÀ GÌ ?

 - Người đăng bài viết: Thu Trang  - Chuyên mục :  Đã xem: 23 

Daytot.vn giới thiệu cho các em kiến thức NỘI DUNG CỦA CA DAO LÀ GÌ

 

NỘI DUNG CỦA CA DAO LÀ GÌ ? 

 Ca dao phản ánh lịch sử

Ca dao là những bài ca về lịch sử. Nhưng trước tiên, việc xác định nội dung lịch sử của những câu ca dao cũng là vấn đề cần xem xét.

Tác giả Nguyễn Văn Mại trong Việt Nam phong sử đã trình bày quan điểm của mình trong bài Tựa: Phong là cái gì ? Là thơ ở trong ca dao dân tục vậy. Sử là cái gì ? Là cái gương sáng để khen chê khuyến trừng việc thị phi thiện ác vậy. Tại sao phong mà lại gọi là sử ? Vì nhân đọc dân phong mà biết quốc sử vậy. Với phương pháp biên soạn: đem ý riêng nghị luận bổ thêm vào ... lấy phong dao làm gương sáng để chiếu tinh thần quốc sử, lại lấy quốc sử làm căn bản để cắm cái hoa lá phong dao ..., tác giả đã có sự gắn kết các câu ca dao vào từng thời kỳ, sự kiện, nhân vật lịch sử. Chẳng hạn:

-Tưởng là chị ngã em nâng,

Chẳng hay chị ngã em mừng em lo.

được tác giả coi là nói về việc Trịnh Tùng tranh cướp lấn quyền của anh là Trịnh Cối sinh ra hiềm khích đánh nhau.

            Theo cách thức như vậy, có thể ghép nhiều nội dung lịch sử khác nhau cho cùng một câu ca dao:

                                    -Nước lã mà vã nên hồ,

Tay không mà nổi cơ đồ mới ngoan.

được cho là nói về việc sau hai bà Trưng lại có Lý Nam Ðế xưng hùng, chống nhau với nhà Lương, người khác lại cho là nói về việc Lê Hoàn được sự nâng đỡ của Dương Vân Nga mà lấy được ngai vàng nhà Ðinh ...

            Ca dao lịch sử nói đến lịch sử bằng một thứ ngôn ngữ trực tiếp. Ca dao lịch sử không phản ánh hiện tượng lịch sử trong quá trình diễn biến của nó, mà chỉ nhắc đến sự kiện lịch sử để nói lên thái độ, quan điểm nhân dân.

Nhân dân nói về sự kiện Bà Triệu khởi nghĩa chống lại ách thống trị của quân Ngô xâm lược hồi thế kỷ III:

-Ru con con ngủ cho lành,

Ðể mẹ gánh nước rửa bành cho voi.

Muốn con lên núi mà coi,

Coi bà Triệu tướng cưỡi voi đánh cồng.

Túi gấm cho lẫn túi hồng,

Têm trầu cánh kiến cho chồng đi quân.

Về cuộc kháng chiến vĩ đại mười năm chống quân Minh hồi thế kỷ XV gắn với tên tuổi người anh hùng Lê Lợi và nghĩa quân Lam Sơn, nhân dân ghi nhớ trong lời ca dao:

-Ai lên Biện Thượng, Lam Sơn,

Nhớ đây Lê Lợi chặn đường quân Minh.

Có những câu ca dao nói đến những sự kiện phản ánh tình hình suy thoái của chính quyền phong kiến.

-Cơm ăn mỗi bữa mỗi lưng,

Bao giờ gánh đá ông Ðăng cho rồi.

nói về sự khốn khổ của nhân dân Thanh Hóa thời Hậu Lê (1600) phải đi phu gánh đá xây sinh từ cho Ðăng quận công Nguyễn Khải.

                                    -Vạn Niên là Vạn Niên nào,

Thành xây xương lính, hào đào máu dân.

Câu ca dao là lời ta thán của nhân dân khi phải chịu cảnh phu phen tạp dịch nặng nề để xây lăng Vạn Niên cho vua Tự Ðức.

Bằng lời lẽ táo bạo nhân dân đánh vào sự thối nát, rối ren của chính quyền thống trị của họ Trịnh cuối thế kỷ XVIII:

                                    -Trăm quan có mắt như mờ,        

                        Ðể cho Huy Quận vào sờ chính cung.

                                    -Ðục cùn thì giữ lấy Tông,

                        Ðục long, Cán gãy, còn mong nỗi gì !

2.      Phản ánh nếp sống, phong tục, tập quán truyền thống

Những phong tục, tập quán truyền thống trong các lĩnh vực sinh hoạt vật chất, tinh thần của nhân dân được thể hiện rất phong phú trong ca dao.

Ðây là những tập quán trong lao động nông nghiệp, ngư nghiệp:

-Người ta đi cấy lấy công,

Còn tôi đi cấy còn trông nhiều bề,

Trông trời, trông đất, trông mây,

Trông mưa, trông nắng, trông ngày, trông đêm.

Trông cho chân cứng, đá mềm,

Trời yên bể lặng mới yên tấm lòng.

-Cày đồng đang buổi ban trưa,

Mồ hôi thánh thót như mưa ruộng cày ...

-Chồng chài, vợ lưới, con câu,

Mênh mông bể Sở biết đâu là nhà.

Những cảnh sinh hoạt truyền thống:

-Hôm qua anh đến chơi nhà,

Thấy mẹ nằm võng, thấy cha nằm giường.

                        Thấy em nằm đất anh thương...

-Aïo đen năm nút viền bâu,

Ai may cho bậu hay là bậu may.

-Mua cau chọn những buồng sai,

            Mua trầu chọn những trăm hai lá vàng.

Tai nghe trống chiến trống chầu,

Xếp ba miếng kẹo lộn đầu, lộn đuôi.

3.      Phản ánh đời sống tình cảm nhân dân

Ca dao trước hết là tiếng hát về tình yêu của con người, đây là một tình cảm phong phú và rộng lớn.

Những thắng cảnh thiên nhiên mọi miền đất nước, những công trình văn hóa từ bao đời ... được khắc họa như một bức tranh rộng lớn trong ca dao, thể hiện sự nhận thức về cương vực tổ quốc, lòng yêu mến, tự hào về đất nước, con người.

-Nhất cao là núi Ba Vì,

Thứ ba Tam Ðảo, thứ nhì Ðộc Tôn.

-Nhất cao là núi Tản Viên,

Nhất sâu là vũng Thủy Tiên cửa Vường.

-Làm trai cho đáng nên trai,

Phú Xuân đã trải, Ðồng nai đã từng.

-Ðường vô xứ Nghệ quanh quanh,

Non xanh nước biếc như tranh họa đồ.

Yêu em anh cũng muốn vô,

Sợ truông nhà Hồ sợ phá Tam Giang.

    Phá Tam Giang ngày rày đã cạn,

    Truông nhà Hồ nội tán cấm nghiêm.

-Rủ nhau chơi khắp Long Thành,

Ba mươi sáu phố rành rành chẳng sai.

Hàng Bồ, hàng Bạc, hàng Gai,

Hàng Buồm, hàng Thiếc, hàng Hài, hàng Khay.

Mã Vĩ, hàng Ðiếu, hàng giày,

Hàng Lờ, hàng Cót, hàng Mây, hàng Ðàn.

Phố Mới, Phúc Kiến, hàng Than,

Hàng Mã, hàng Mắm, hàng Ngang, hàng Ðồng.

Hàng Muối, hàng Nón, cầu Ðông,

Hàng Hòm, hàng Ðậu, hàng Bông, hàng Bè.

Hàng Thúng, hàng Bát, hàng Tre,

Hàng Vôi, hàng Giấy, hàng The, hàng Gà.

Quanh đi đến phố hàng Da,

Trải xem phưòng phố thật là cũng xinh.

Phồn hoa thứ nhất Long Thành,

Phố giăng mắc cửi đường quanh bàn cờ.

Người về nhớ cảnh ngẩn ngơ,

Bút hoa xin chép vần thơ lưu truyền.

Sự giàu có của những sản vật tự nhiên, và những sản phẩm do bàn tay sáng tạo của con người đã làm nên nét đẹp quê hương có mặt rất nhiều trong ca dao:

-Muốn ăn mật rú vô Trèn,

Muốn xơi ốc đực thì lên Thác Ðài.

-Lụa này thật lụa cố đô,

Chính tông lụa cống các cô đang dùng.

-Bến Tre giàu mía Mõ Cày,

Giàu nghêu Thạnh Phú, giàu xoài Cái Mơn.

Ca dao trữ tình về tình yêu nam nữ có nội dung phản ánh được mọi biểu hiện của tình cảm lứa đôi trong tất cả những chặng đường của nó: giai đoạn gặp gỡ, ướm hỏi nhau, giai đoạn gắn bó trao gửi những lời thề nguyền, giai đoạn hạnh phúc với những niềm ước mơ, những nỗi nhớ nhung hoặc nỗi đau khổ với những lời than thở, oán trách ...

-Hôm qua tát nước đầu đình,

Bỏ quên cái áo trên cành hoa sen.

Em được thì cho anh xin,

Hay là em để làm tin trong nhà.

Aïo anh sứt chỉ đường tà,

Vợ anh chưa có mẹ già chưa khâu.

Aïo anh sứt chỉ đã lâu,

Mai mượn cô ấy về khâu cho cùng.

Khâu rồi anh sẽ trả công,

Ít nữa lấy chồng anh sẽ giúp cho.

Giúp em một thúng xôi vò,

Một con lợn béo, một vò rượu tăm.

Giúp em đôi chiếu em nằm,

Ðôi chăn em đắp, đôi trằm em đeo.

Giúp em qua tám tiền cheo,

Quan năm tiền cưới lại đèo buồng cau.

-Quạt này anh để che đầu,

Ðêm đêm đi ngủ chung nhau quạt này.

Ước gì chung mẹ, chung thầy,

Ðể em giữ cái quạt này làm thân.

Rồi ra chung gối chung chăn,

Chung quần chung áo, chung khăn đội đầu.

Nằm thì chung cái giường Tàu,

Dậy thì chung cả hộp trầu ống vôi.

Ăn cơm chung cả một nồi,

Gội đầu chung cả dầu hồi nước hoa.

Chải đầu chung cái lược ngà,

Soi gương chung cả ngành hoa giắt đầu...

-Muốn khuây dạ nỏ chịu khuây,

Sự đâu đem đổ dạ này mê man.

     -Buổi mai em xách cái thống,

     Em xuống dưới ao em bắt con cua,

     Em bỏ vô trong cái thống;

Hắn kêu cái rỏng, hắn kêu cái rảnh,

Hắn kêu một tiếng chàng ôi !

Chàng đà yên phận tốt đôi,

Em nay lẻ bạn mồ côi một mình.

    -Ngọn lang trắng, ngọn vắn, ngọn dài,

     Rau tần ô, ngã dọc, ngã ngang,

     Trái dưa gang sọc đen, sọc trắng,

Ngọn rau đắng, trong trắng ngoài xanh.

Chim quyên uốn lưỡi trên nhành,

Bởi em ở bạc, ông trời nào đành để em.

-Trèo lên cây bưởi hái hoa,

Bước xuống vườn cà hái nụ tầm xuân ...

Một bộ phận bài ca này còn mang thêm ý nghĩa xã hội, những bài ca nói đến sự  trắc trở trong tình yêu đôi lứa:

-Hai ta là bạn thong dong,

Như đôi đũa ngọc nằm trong mâm vàng.

Bởi chưng thầy mẹ nói ngang,

Cho nên đũa ngọc, mâm vàng xa nhau.

-Vắn tay với chẳng đặng kèo,

Cha mẹ anh nghèo cưới chẳng đặng em.

Ca dao trữ tình thể hiện rất phong phú những biểu hiện của tình cảm gia đình: tình cảm vợ chồng, tình cảm cha mẹ và con cái, tinh cảm anh em ... phản ánh nhiều mặt đời sống tình cảm của nhân dân.

Ðây là hình ảnh một gia đình truyền thống:

-Sáng trăng trải chiếu hai hàng,

Bên anh đọc sách, bên nàng quay tơ.

Tình nghĩa gắn bó, thủy chung, tiếng nói đạo nghĩa của nhân dân:

-Muối ba năm muối đương còn mặn,

Gừng cay chín tháng gừng hãy còn cay,

Ðạo nghĩa cang thường chớ đổi đừng thay,

Dẫu có làm nên danh vọng, rủi có ăn mày ta cũng theo nhau.

Những bài ca tuyệt hay về tình mẹ con:

-Ngồi buồn nhớ mẹ ta xưa,

Miệng nhai cơm bún, lưỡi lừa cá xương.

-Mẹ già ở túp lều tranh,

Sớm thăm, tối viếng mới đành dạ con.

4.      Phản ánh đời sống xã hội cũ

Ca dao trữ tình lấy đề tài trong đời sống xã hội khắc họa một bức tranh phong phú về hiện thực. Ca dao phản ánh những tâm trạng đau khổ, chua xót, uất ức, thái độ phản kháng của nhân dân chống ách thống trị phong kiến.

-Gánh cực mà đổ lên non,

                  Còng lưng mà chạy, cực còn chạy theo.

-Bộ Binh, bộ Hộ, bộ Hình ...

-Con cò mà đi ăn đêm,

Ðụng phải cành mềm, lộn cổ xuống ao.

Ông ơi ông vớt tôi nao,

Tôi có lòng nào ông hãy xáo măng.

Có xáo thì xáo nước trong, 

Ðừng xáo nước đục, đau lòng cò con.

-Con vua thì lại làm vua,

Con sãi ở chùa lại quét lá đa,

Bao giờ dân nổi can qua,

Con vua thất thế lại ra quét chùa.

Ca dao phản ánh khá nổi bật đời sống, tâm trạng người phụ nữ trong xã hội cũ. Ðây cũng là những tâm trạng uất ức, đau khổ trước những bất công xã hội áp đặt đối với người phụ nữ.

-Thân em như hạt mưa sa,

Hạt vào đài các hạt ra ruộng cày.

-Thân em như giếng giữa đàng,

Người khôn rửa mặt, người phàm rửa chân. 

-Lênh đênh chiếc bách giữa dòng,

Thương thân goá bụa phòng không lỡ thì.

Gió đưa cây trúc ngã quỳ,

Ba năm chực tiết còn gì là xuân !

Người phụ nữ trong ca dao không cam chịu với địa vị thấp kém, phụ thuộc:

-Chồng con là cái nợ nần,

Chẳng thà ở vậy nuôi thân béo mầm.

-Không chồng mà chửa mới ngoan,

Có chồng mà chửa thế gian sự thường.

Những bài ca về người lính và người vợ lính phản ánh sự phản kháng mạnh mẽ của nhân dân trước những cuộc chiến tranh phong kiến xảy ra liên miên suốt bốn thế kỷ từ đầu thế kỷ XVI đến đầu thế kỷ XIX.

Ðây là bài ca về người lính thú với tâm trạng u uất, buồn khổ:

-Ba năm trấn thủ lưu đồn,

Ngày thì canh điếm, tối dồn việc quan.

Chém tre đẵn gỗ trên ngàn,

Hữu thân hữu khổ phàn nàn cùng ai !

Miệng ăn măng trúc, măng mai,

Những giang cùng nứa biết ai bạn cùng ?

Nước giếng trong con cá nó vẫy vùng.

Bài ca về người vợ lính sáng lên hình ảnh người phụ nữ với đức hy sinh, tinh thần đấu tranh chống phong kiến.

-Cái cò lặn lội bờ sông,

Gánh gạo đưa chồng tiếng khóc nỉ non.

Nàng về nuôi cái cùng con, 

Ðể anh đi trẩy nước non Cao Bằng.

-... Chém cha cái giặc chết hoang,

Làm cho thiếp phải gánh lương theo chồng.

Gánh từ xứ Bắc, xứ Ðông,

Ðã gánh theo chồng lại gánh theo con.

5.      Chứa đựng tiếng cười trào phúng

Ca dao trào phúng và ca dao trữ tình có mối quan hệ khăng khít nhau. Ca dao trào phúng thể hiện tính thích trào lộng của nhân dân. Phạm vi đề tài của ca dao trào phúng cũng rất rộng rãi. Các hiện tượng trái tự nhiên, không bình thường có thể trở thành đối tượng của nó.

-Chồng còng mà lấy vợ còng,

Nằm phản thì chật, nằm nong thì vừa.

-Lỗ mũi em mười tám gánh lông,

Chồng yêu chồng bảo tơ hồng trời cho.

Ðêm nằm thì ngáy o o,

Chồng yêu chồng bảo ngáy cho vui nhà.

Ði chợ thì hay ăn quà,

Chồng yêu chồng bảo về nhà đỡ cơm ...

Phần lớn ca dao trào phúng có nội dung xã hội. Bằng tiếng cười trào phúng, nhân dân phê phán, đả kích giai cấp thống trị, những hiện tượng không bình thường, phi lý, những tệ trạng ... thể hiện khát vọng của nhân dân về một cuộc sống tốt đẹp hơn.

Những bài thách cưới có tính chất trào phúng phê phán những tục lệ thách cưới, nộp cheo, là những hủ tục trong chế độ hôn nhân xưa:

-Em về thưa với mẹ cha,

Bắt lợn đi cưới bắt gà đi cheo.

Ðầu lợn lớn hơn đầu mèo,

Làng ăn không hết làng treo cột đình.

Ông quan đánh trống thình thình,

Quan viên mũ áo ra đình ăn cheo.

-Cưới nàng anh toan dẫn voi,

Anh sợ quốc cấm nên voi không bàn.

Dẫn trâu, sợ họ máu hàn,

Dẫn bò, sợ họ nhà nàng co gân.

Miễn là có thú bốn chân,

Dẫn con chuột béo, mời dân, mời làng.

-Chàng dẫn thế em lấy làm sang,

Nỡ nào em lại phá ngang như là ...,

Người ta thách lợn thách gà,

Nhà em thách cưới một nhà khoai lang;

Củ to thì để mời làng,

Còn như củ nhỏ họ hàng ăn chơi.

                        Bao nhiêu củ mẻ chàng ơi,

Ðể cho con trẻ ăn chơi giữ nhà...

Nhân dân hướng mũi nhọn đả kích vào tầng lớp thống trị phong kiến tập trung vào một số đối tượng rất quen thuộc trong văn học dân gian: vua chúa, các loại quan văn, quan võ, các loại thầy cúng, thầy bói, sư giả hiệu ...

-Vua Lê ba mươi sáu tàn vàng,

Thấy gái đi đàng ngó ngó nom nom.

Cô nào óng ả son son,

Vua đóng vào hòm đem trẩy về kinh.

-Em là con gái đồng trinh,

Em đi bán rượu qua dinh ông Nghè.

Ông Nghè sai lính ra ve,

Trăm lạy ông nghè ông đã có con.

Có con thì mặc có con,

Thắt lưng cho giòn theo võng cho mau.

-Cậu cai nón dấu lông gà,

Cổ tay đeo nhẫn gọi là cậu cai.

-Cậu cai buông áo em ra

Ðể em đi chợ kẻo mà chợ trưa ...

-Chập chập cheng cheng,

Con gà trống thiến để riêng cho thầy.

Ðơm xôi thì đơm cho đầy,

Ðơm mà vơi đĩa thì thấy không ưa.

-Hòn đất mà biết nói năng,

Thì thầy địa lý hàm răng chẳng còn.

Từ sự phê phán những biểu hiện cụ thể, đây còn là quan điểm của nhân dân về vấn đề tôn giáo:

-Ai lên Hương Tích Chùa Tiên,

Gặp cô sư bác, anh khuyên đôi lời:

Ðem thân làm cái kiếp người,

Tu sao cho trọn nước đời mà tu ?


 
Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết

  Ý kiến bạn đọc

  Ẩn/Hiện ý kiến

Mã chống spam   

Những tin mới hơn

 

Những tin cũ hơn

Thời điểm thi THPT QG

Bạn muốn tổ chức thi thử vào THPT QG khi nào?

Top