TÌNH HÌNH PHÁT TRIỂN VĂN CHƯƠNG THỜI MÔNG NGUYÊN

 - Người đăng bài viết: Thu Trang  - Chuyên mục :  Đã xem: 10 

Daytot.vn giới thiệu tới các em HS TÌNH HÌNH PHÁT TRIỂN VĂN CHƯƠNG THỜI MÔNG NGUYÊN

 
TÌNH HÌNH PHÁT TRIỂN VĂN CHƯƠNG THỜI MÔNG NGUYÊN 

TOP

Nét nổi bật của văn chương thời Mông Nguyên là sự phát triển rực rỡ của tạp kịch. Nếu như thời Hán có sự phát triển của thể phú, thời Ðường có sự phát triển của thơ ca, thời Tống có sự phát triển rực rỡ của từ (biến thức của thơ) và thời Minh-Thanh sau này có sự phát triển rực rỡ của tiểu thuyết cổ điển thì thời Mông Nguyên có sự phát triển đạt đến mức hoàng kim của thể tạp kịch.

            Trên văn đàn Trung Quốc thời này cũng có sự phát triển của thơ nhưng thơ chủ yếu là do quan lại người Trung Quốc làm tay chân cho người Mông Cổ sáng tác. Xét về số lượng thì nhiều, nhưng về chất lượng thì thơ ca Trung Quốc thời này đi vào sự sáo mòn về câu chữ, nghèo nàn về nội dung. Nhiều bài thơ chủ yếu đi vào thú vui chơi hoặc ca công tụng đức đối với giai cấp thống trị và mang nặng tư tưởng nô lệ.

            Bên cạnh khuynh hướng văn chương ấy, còn có một khuynh hướng dựa trên văn chương dân gian để phát triển và tạo được những thành tựu, văn chương mới đáp ứng yêu cầu của thời đại. Ở khuynh hướng văn chương này có sự phát triển của khúc còn gọi là Nguyên khúc. Khúc bao gồm tản khúc và tạp kịch.

            Thời này có sự phát triển của tản khúc. Ðội ngũ sáng tác tản khúc có tên tuổi gồm 187 tác gia. Thực chất của tản khúc cũng là thơ. Tản khúc kế thừa những làn điệu dân ca thời Kim (1115-1234). Tản khúc giống Tống từ ở chỗ dựa vào làn điệu để sáng tác và hòa âm nhạc vào để hát. So với Tống từ thì tản khúc có nhiều yếu tố được cách tân, đặc biệt là về hình thức. Ngôn ngữ của Tống từ thường được gọt giũa trau chuốt, còn ngôn ngữ của tản khúc thì lại rất gần gũi với ngôn ngữ của quảng đại quần chúng nhân dân, rất giản dị và mộc mạc. Về số từ và số tiếng trong những câu của Tống từ đều được quy định chặt chẽ. Còn số tiếng trong mỗi câu của tản khúc thì có phần tự do, cởi mở và uyển chuyển hơn. Trong một bài tản khúc có câu dài đến hàng chục tiếng nhưng có câu chỉ có hai, ba tiếng. Về âm luật thì tản khúc cũng rất thoáng. Nội dung vẫn chưa thoát khỏi những tình điệu xưa, có những bài tản khúc chỉ là những lời than thở, trách phận hay thể hiện tình cảm riêng tư. Bên cạnh đó, cũng có những bài tản khúc đã phản ánh những nét thực tại của đời sống lúc bấy giờ. Như vậy tản khúc thời Mông Nguyên có hai khuynh hướng. Khuynh hướng hướng nội (nghiêng về bộc lộ tình ảm bên trong) và khuynh hướng hướng ngoại (nghiêng về phản ánh thực tại bên ngoài). So với nội dung của Tống từ thì tản khúc thiếu hẳn cái khí vị hào hùng của Tống từ với tên tuổi của Lục Du, Tô Ðông Pha, Tân Khí Tật. Những tác giả tản khúc nổi tiếng thời này là Trương Dưỡng Hạo, Lưu Thời Trung, Quan Hán Khanh, Bạch Phác, Mã Trí Viễn, Trương Khả Cửu, Kiều Cát...

Nhưng sự phát triển của văn chương thời này không chỉ là sự phát triển của tản khúc mà chủ yếu là sự phát triển của tạp kịch. Tạp kịch thời này phát triển mạnh mẽ chưa từng có trong suốt cả tiến trình phát triển văn chương Trung Quốc. Tạp kịch là loại ca vũ kịch của Trung Quốc, còn gọi là hí khúc. Sự phát triển tạp kịch thời Mông Nguyên dựa trên cơ sở của loại hình sân khấu đã có trước đó như Ðạp dao nương, Viện bạn và Chư cung điệu thời Tống-Kim. Loại hình sân khấu dân gian chư cung điệu là loại hình sân khấu sơ khai, diễn viên chỉ có một người vừa nói, vừa hát và trình diễn bất kì chỗ nào. Tạp kịch là một bước phát triển so với chư cung điệu. Nó phát triển ở chỗ loại hình sân khấu này có yếu tố gần gũi với sân khấu hiện đại , có nhiều diễn viên, các diễn viên vừa nói vừa hát, có cả múa nữa. Có sân khấu được trần thiết, diễn viên được hóa trang có nhạc nền, lời hát của diễn viên tạp kịch lấy từ tản khúc.

            Số lượng kịch bản tạp kịch thời này rất nhiều, có trên 700 kịch bản tạp kịch. Ðội ngũ sáng tác kịch bản tạp kịch thời này cũng khá đông. Các tác gia tạp kịch nổi tiếng thời Nguyên gồm: Quan Hán Khanh, Bạch Phác, Mã Trí Viễn, Trịnh Quang Tổ. Bốn tác gia tạp kịch này đã được gọi là Nguyên khúc tứ đại gia

Sở dĩ kịch bản tạp kịch thời này phát triển mạnh là bởi những nguyên nhân sau đây:

            Thời Nguyên kinh tế đô thị phát triển chưa từng có trước đó. Nên tầng lớp thị dân cũng phát triển. Vì vậy, thị hiếu thẩm mỹ của tầng lớp thị dân có sự thay đổi. Lúc này tầng lớp thị dân ham thích đi xem biểu diễn tạp kịch nên tạp kịch phát triển.

            Quan quân Mông Nguyên rất thích xem vũ kịch. Ðây là một điều kiện để tạp kịch phát triển. 

            Dưới triều Nguyên chế độ thi cử bị bãi bỏ. Nên tầng lớp nho sĩ, văn nghệ sĩ mất hết đường sống, họ đã tìm đến con đường sáng tác và biểu diễn tạp kịch, họ lập ra các thư hội và sáng tác tạp kịch.

            Dân tộc Trung Hoa bị áp bức nặng nề. Văn chương nói chung và đặc biệt tạp kịch nói riêng của Trung Quốc thời này đã trở thành tiếng nói đòi tự do. Trong một dân tộc bị tước mất tự do xã hội, văn chương là diễn đàn duy nhất mà từ đỉnh cao đó nó buộkc người ta phải nghe tiếng kêu bất bình và tiếng gào thét của ý thưc mình (Ghecxen).

            Lực lượng sáng tác tạp kịch thời này khá đông, các tác gia tạp kịch có tên tuỏi là trên 200 người. Họ bị quan quân Mông Cổ đẩy xuống tận dưới đáy xã hội nên đời sống của họ rất gần gũi với các tầng lớp bị áp bức, bóc lột nặng nề trong xã hội. Lực lượng này vừa sáng tác cũng vừa tham gia biểu diễn cùng với các diễn viên tạp kịch. Do đời sống của họ gần gũi với các tầng lớp bị áp bức nên họ sớm nói được tiếng lòng của quần chúng lao động.

            Tư tưởng nhân đạo của các tác gia tạp kịch được biểu hiện trong kịch bản, hoàn toàn không có sự cách bậc với quần chúng, không có thứ chủ nghĩa nhân đạo kiểu thư phòng (chữ dùng của Ăngghen).

            Tác phẩm tạp kịch thời này tập trung vào 3 đề tài lớn là tình yêu, công án và lịch sử:

            Ðề tài tình yêu trong kịch bản tạp kịch chứa đựng tiếng nói đấu tranh đòi quyền tự do yêu đương (tiêu biểu nhất là Tây Sương Kí của Vương Thực Phủ).

                        Ðề tài công án thường xuất hiện vai trò của Bao Công, đề cao công lí, ca ngợi chính nghĩa (tiêu biểu là vở Ðậu Nga oan, Hồ điệp mộng của Quan Hán Khanh).

                        Ðề tài lịch sử gợi lại những sự kiện lịch sử, kích thích tinh thần đấu tranh của quần chúng (tiêu biểu là kịch bản Ðơn đao hội của Quan Hán Khanh).

            Trong kịch bản của tạp kịch, tiếng nói đấu tranh đòi quyền sống, đòi tự do được thể hiện rất sâu kín. Tuy vậy, tư tưởng chủ đề ở nhiều kịch bản tạp kịch lại được thể hiện khá rõ. Hầu hết các kịch bản tạp kịch đều tập trung ca ngợi chính nghĩa, phản đối phi nghĩa, lên án bất công, cường bạo.

            Về hình thức nghệ thuật, nhiều kịch bản tạp kịch đã đạt được những thành tựu đáng kể. Ngôn ngữ trong kịch bản tạp kịch gần gũi với lời ăn tiếng nói của nhân dân. Lời trong kịch bản tạp kịch được lấy từ trong tản khúc.

            Nhiều tác gia tạp kịch đã kết hợp yếu tố hiện thực với yếu tố lãng mạn khi tạo dựng chi tiết và xây dựng nhân vật. Một số tác gia khi xây dựng nhân vật trong kịch bản tạp kịch đã khắc họa được chiều sâu nội tâm của nhân vật. Kết cấu của kịch bản tạp kịch là kết cấu theo trình tự thời gian. Kết thúc một kịch bản tạp kịch thường là kết thúc có hậu- chính nghĩa thắng gian tà.

            Nội dung cũng như hình thức nghệ thuật kịch bản tạp kịch rất giàu tính nhân dân.


 
Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết

  Ý kiến bạn đọc

  Ẩn/Hiện ý kiến

Mã chống spam   

Những tin mới hơn

 

Những tin cũ hơn

Thời điểm thi THPT QG

Bạn muốn tổ chức thi thử vào THPT QG khi nào?

Top