Thơ trữ tình chính trị

 - Người đăng bài viết: Thu Trang  - Chuyên mục :  Đã xem: 475 

Daytot.vn sưu tầm cho các em Thuật ngữ Thơ trữ tình chính trị

 

KHÁI QUÁT VỀ THƠ TRỮ TÌNH CHÍNH TRỊ CỦA TỐ HỮU 
 

1. Mở bài: Tố Hữu là nhà thơ tiêu biểu cho khuynh hướng thơ trữ tình chính trị - Dẫn ý kiến.
 

2. Thân bài:
 

a. Giải thích:
 

- Thơ chính trị: Là thơ trực tiếp đề cập đến những vấn đề chính trị, những sự kiện chính trị nhằm mục đích tuyên tuyền, cổ động. Chính vì thế, thơ chính trị thường có nguy cơ rơi vào khô khan, áp đặt.
 

- Ý kiến của Xuân Diệu: Tố Hữu đã “trữ tình hóa” thơ chính trị, để thơ chính trị thực sự là thơ, có sức rung cảm sâu xa. Đây là ý kiến đánh giá rất cao về thơ Tố Hữu.
 

b. Bình luận
 

- Ý kiến của Xuân Diệu rất xác đáng và tinh tế, đánh giá, ghi nhận đúng vị trí đặc biệt và thành tựu lớn lao của đời thơ Tố Hữu.
 

- Thơ Tố Hữu đúng là thơ chính trị, bởi đề tài trong thơ Tố Hữu là những vấn đề chính trị, hồn thơ Tố Hữu luôn hướng tới cái ta chung với lẽ sống lớn, tình cảm lớn và niềm vui lớn của Đảng, dân tộc, cách mạng (chứng minh điều này qua các tập thơ từ Từ ấy đến Máu và hoa, phần đầu của phong cách thơ Tố Hữu trong SGK).
 

- Nhưng thơ Tố Hữu cũng rất đỗi trữ tình. Tố Hữu đã đưa thơ trữ tình chính trị lên đến đỉnh cao. Có được điều ấy là nhờ những vấn đề chính trị trong thơ Tố Hữu đã được thực sự chuyển hóa thành những vấn đề của tình cảm, cảm xúc rất mực tự nhiên, chân thành, đằm thắm với một giọng thơ ngọt ngào, tâm tình, giọng của tình thương mến (VD: Tiếng ru, Bác ơi, Quê mẹ…).
 

c. Chứng minh qua Việt Bắc
 

Chú ý làm rõ các điểm cơ bản sau:
 

- Việt Bắc là thơ chính trị (đề cập đến sự kiện lịch sử là cuộc chia tay giữa những người kháng chiến với nhân dân Việt Bắc tháng 10 năm 1954, cảm hứng chủ đạo của bài thơ là cảm hứng ân tình cách mạng, niềm biết ơn sâu sắc với Đảng, Bác Hồ, căn cứ địa cách mạng, nhân dân…).
 

- Nhưng Việt Bắc cũng rất đỗi trữ tình:
 

+ Nỗi nhớ đằm sâu, tràn trào, mênh mang, lan tỏa cả không gian và thời gian của “ta” và “mình”, người đi và kẻ ở gắn liền với tình cảm sắt son chung thủy – nỗi nhớ về cảnh và người, nỗi nhớ về những kỉ niệm… Bài thơ mang âm điệu của một bản tình ca ngọt ngào, đằm thắm (chú ý những câu nói về nỗi nhớ, khẳng định tình nghĩa ).
 

+ Cùng với nỗi nhớ, cảnh và người Việt Bắc hiện lên với những chi tiết vừa chân thực, giản dị, vừa lộng lẫy, tươi tắn, thơ mộng, giàu sức rung động lòng người (chú ý “Nhớ gì như nhớ người yêu…Nhớ ai tiếng hát ân tình thủy chung).
 

 + Niềm vui hân hoa, âm điệu hùng tráng đậm chất sử thi (đoạn 2 – khúc hùng ca).
 

+ Giọng điệu ngọt ngào, tâm tình với kết cấu đối đáp, cách xưng hô mình – ta và thể thơ lục bát truyền thống, sở trường sử dụng từ láy và các hình ảnh so sánh ví von đậm đà tính dân tộc.
 

3. Kết bài: Khẳng định lại ý kiến.
 

MỘT SỐ BÀI PHÂN TÍCH HAY:
 

1/ Bức tranh tứ bình
 

"Việt Bắc" - bài thơ lục bát mang tầm vóc một trường ca dài 150 câu thơ, cảm xúc dâng lên mênh mông dào dạt. Bài thơ ra đời vào tháng 10 năm 1954, ngày giải phóng Thủ đô Hà Nội. Qua bài thơ, Tố Hữu nói lên một cách thiết tha mặn nồng mối tình Việt Bắc, mối tình cách mạng và kháng chiến.
 

Đoạn thơ 10 câu dưới đây trích từ câu 43 đến câu 52 trong bài thơ "Việt Bắc" nói lên bao nỗi nhớ vô cùng thắm thiết thủy chung đối với Việt Bắc:
 

"Ta về mình có nhớ ta,
 

.........................................................
 

Nhớ ai tiếng hát ân tình thủy chung".
 

1. Hai câu thơ đầu là lời hỏi - đáp của "ta", của người cán bộ kháng chiến về xuôi, ta hỏi mình "có nhớ ta". Dù về xuôi, dù xa cách nhưng lòng ta vẫn gắn bó thiết tha với Việt Bắc: "Ta về, ta nhớ những hoa cùng người". Chữ "ta", chữ "nhớ" được điệp lại thể hiện một tấm lòng thủy chung son sắt. Nỗi nhớ ấy hướng về "những hoa cùng người", hướng về thiên nhiên núi rừng Việt Bắc và con người Việt Bắc thân yêu:
 

"Ta về, mình có nhớ ta,
 

Ta về, ta nhớ những hoa cùng người".
 

Hai chữ "mình - ta" xuất hiện ở tần số cao trong bài thơ, cũng như ở trong hai câu thơ này đã thể hiện một cách rất đẹp tình cảm lứa đôi hòa quyện trong mối tình Việt Bắc, đồng thời làm cho giọng thơ trở nên thiết tha bồi hồi như tiếng hát giao duyên thuở nào. Đó là sắc điệu trữ tình và tính dân tộc trong thơ Tố Hữu.
 

2. Tám câu thơ tiếp theo, mỗi cặp lục bát nói lên một nỗi nhớ cụ thể về một cảnh sắc, một con người cụ thể trong 4 mùa đông, xuân, hè, thu.
 

a. Nhớ mùa đông nhớ màu "xanh" của núi rừng Việt Bắc, nhớ màu "đỏ tươi" của hoa chuối như những ngọn lửa thắp sáng rừng xanh. Nhớ người đi nương đi rẫy "dao gài thắt lưng" trong tư thế mạnh mẽ hào hùng đứng trên đèo cao "nắng ánh...". Con dao của người đi nương đi rẫy phản quang "nắng ánh" rất gợi cảm:
 

"Rừng xanh, hoa chuối đỏ tươi
 

Đèo cao nắng ánh dao gài thắt lưng".
 

Màu "xanh" của rừng, màu "đỏ tươi" của hoa chuối, màu sáng lấp lánh của "nắng ánh" từ con dao; màu sắc ấy hòa hợp với nhau, làm nổi bật sức sống tiềm tàng, mãnh liệt của thiên nhiên Việt Bắc, của con người Việt Bắc đang làm chủ thiên nhiên, làm chủ cuộc đời trong kháng chiến. Tố Hữu đã có một cái nhìn phát hiện về sức mạnh tinh thần làm chủ tập thể của nhân dân ta do cách mạng và kháng chiến mang lại. Người lao động sản xuất thì hào hùng đứng trên "đèo cao" ngập nắng và lộng gió. Đoàn dân công đi chiến dịch thì "bước chân nát đá muôn tàn lửa bay". Người chiến sĩ ra trận mang theo sức mạnh vô địch của thời đại mới:
 

"Núi không đè nổi vai vươn tới
 

 Lá ngụy trang reo với gió đèo".
 

(Lên Tây Bắc)
 

b. Nhớ ngày xuân Việt Bắc là nhớ hoa mơ "nở trắng rừng". Chữ "trắng" là tính từ chỉ màu sắc được chuyển từ loại thành bổ ngữ "nở trắng rừng", gợi lên một thế giới hoa mơ bao phủ khắp mọi cánh rừng Việt Bắc màu trắng thanh khiết mênh mông và bao la. Cách dùng từ tài hoa của Tố Hữu gợi nhớ trong lòng ta câu thơ của Nguyễn Du tả một nét xuân thơ mộng, trinh bạch trong "Truyện Kiều":
 

"Cỏ non xanh tận chân trời,
 

Cành lê trắng điểm một vài bông hoa".
 

Nhớ "mơ nở trắng rừng", nhớ người thợ thủ công đan nón "chuốt từng sợi giang". "Chuốt" nghĩa là làm bóng lên những sợi giang mỏng mảnh. Có khéo léo, kiên nhẫn, tỉ mỉ mới có thể "chuốt từng sợi giang" để đan thành những chiếc nón, chiếc mũ phục vụ kháng chiến, để anh bộ đội đi chiến dịch có "ánh sao đầu súng bạn cùng mũ nan". Người đan nón được nhà thơ nói đến tiêu biểu cho vẻ đẹp tài hoa, tính sáng tạo của đồng bào Việt Bắc. Mùa xuân Việt Bắc thật đáng nhớ:
 

"Ngày xuân mơ nở trắng rừng,
 

Nhớ người đan nón chuốt từng sợi giang".
 

c. Nhớ về Việt Bắc là nhớ mùa hè với tiếng ve kêu làm nên khúc nhạc rừng, là nhớ màu vàng của rừng phách, là nhớ cô thiếu nữ đi "hái măng một mình" giữa rừng vầu, rừng nứa, rừng trúc:
 

"Ve kêu rừng phách đổ vàng,
 

Nhớ cô em gái hái măng một mình". 
 

Một chữ "đổ" tài tình. Tiếng ve kêu như trút xuống "đổ" xuống thúc giục ngày hè trôi nhanh, làm cho rừng phách thêm vàng. Xuân Diệu cũng có câu thơ sử dụng chữ "đổ" chuyển cảm giác tương tự: "Đổ trời xanh ngọc qua muôn lá..." ('Thơ duyên" - 1938). Câu thơ "Nhớ cô em gái hái măng một mình" là câu thơ đặc sắc, giàu vần điệu, thanh điệu. Có vần lưng: "Gái" vần với "hái". Có điệp âm qua các phụ âm "m": "măng - một - mình". Đây là những vần thơ nên họa nên nhạc, tạo nên một không gian nghệ thuật đẹp và vui, đầy màu sắc âm thanh. "Cô em gái hái măng một mình" vẫn không cảm thấy lẻ loi, vì cô đang lao động giữa khúc nhạc rừng, hái măng để góp phần "nuôi quân" phục vụ kháng chiến. Cô gái hái măng là một nét trẻ trung, yêu đời trong thơ Tố Hữu.
 

d. Nhớ mùa hè rồi nhớ mùa thu Việt Bắc, nhớ khôn nguôi, nhớ trăng ngàn, nhớ tiếng hát:
 

"Rừng thu trăng rọi hòa bình,
 

Nhớ ai tiếng hát ân tình thủy chung".
 

Trăng xưa "vàng gieo ngấn nước cây lồng bóng sân". Trăng Việt Bắc trong thơ Bác Hồ là "trăng lồng cổ thụ bóng lồng hoa". Người cán bộ kháng chiến về xuôi nhớ vầng trăng Việt Bắc giữa rừng thu, trăng "rọi" qua tán lá rừng xanh, trăng thanh mát rượi màu "hòa bình" nên thơ. "Ai" là đại từ nhân xưng phiếm chỉ, "nhớ ai" là nhớ về tất cả, về mọi người dân Việt Bắc giàu tình nghĩa thủy chung, đã hi sinh quên mình cho cách mạng và kháng chiến.
 

3. Đoạn thơ trên đây dào dạt tình thương mến. Nỗi thiết tha bồi hồi như thấm sâu vào cảnh vật và lòng người, kẻ ở người về, mình nhớ ta, ta nhớ mình. Tình cảm ấy vô cùng sâu nặng biết bao ân tình thủy chung. Năm tháng sẽ qua đi, những tiếng hát ân tình thủy chung ấy mãi mãi như một dấu son đỏ thắm in đậm trong hồn người.
 

 
 

2/ Đoạn thơ:  "Ai về ai có nhớ không ?
 

            (...) Vui lên Việt Bắc, đèo De, núi Hồng".
 

"Việt Bắc" là một trong những thành tựu thơ ca xuất sắc, là đỉnh cao nhất tập thơ kháng chiến của nhà thơ Tố Hữu. Sau chiến thắng Điện Biên oai hùng, hiệp định Giơ-ne-vơ được kí kết, miền Bắc được hoàn toàn giải phóng: "Hồ gươm xanh thắm quanh bờ - Thiên thu hồn nước mong chờ bấy nay..." (Lại về). Tháng 10-1954, sau 9 năm khói lửa, Hồ Chủ tịch cùng đoàn quân thắng trận trở lại thủ đô Hà Nội. Bài thơ "Việt Bắc" của Tố Hữu ra đời trong hoàn cảnh lịch sử trọng đại ấy.
 

"Việt Bắc" được viết bằng thể thơ lục bát, dài 150 câu thơ. Phần đầu bài thơ tái hiện một thời gian khổ mà oanh liệt của cách mạng và kháng chiến ở chiến khu Việt Bắc nay đã trở thành những kỉ niệm sâu nặng trong lòng người. Phần sau nói lên sự gắn bó giữa miền ngược và miền xuôi trong một viễn cảnh hòa bình tươi sáng của đất nước, và kết thúc bằng lời ngợi ca công ơn Bác Hồ và Đảng đối với dân tộc. Đoạn thơ này dài 16 câu (từ câu 59 đến câu 74), trích trong phần đầu bài "Việt Bắc". Bao trùm đoạn thơ là những nỗi nhớ với tất cả niềm tự hào, nhớ chiến công, nhớ những con đường chiến dịch, nhớ đoàn quân, nhớ dân công, nhớ ngọn đuốc, nhớ ngọn đèn pha của đoàn xe ra trận... Âm điệu hào hùng, niềm vui dào dạt. Sáng bừng vần thơ là sự ca ngợi sức sống mãnh liệt của đất nước và con người Việt Nam trong máu lửa.
 

1. Bốn câu đầu là lời "hỏi - đáp" giữa mình với ta, giữa kẻ ở với người về.
 

"Ai về ai có nhớ không !" - câu hỏi phiếm chỉ, hình như không hỏi riêng một người nào mà là hỏi tất cả, hỏi nhà thơ, hỏi người cán bộ kháng chiến, hỏi anh bộ đội đã từng "chín năm nắng núi mưa ngàn" với Việt Bắc, một thời gian khổ mà oanh liệt. Một câu hỏi gợi nhiều lưu luyến bâng khuâng, đậm đà tình nghĩa. Sau câu hỏi "Ai về ai có nhớ không ?" là câu trả lời: "Ta về ta nhớ...", cấu trúc vần thơ cân xứng, thượng, hạ hô ứng nhịp nhàng. Người về xuôi giàu tình nghĩa thủy chung mới có tiếng nói ấy, tấm lòng ấy, và nỗi nhớ ấy:
 

"Ta về ta nhớ Phù Thông, đèo Giàng...
 

Nhớ sông Lô, nhớ phố Ràng
 

Nhớ từ Cao Lạng, nhớ  sang Nhị Hà:. 
 

Chỉ một chữ "nhớ" trong câu hỏi mà có đến 5 chữ "nhớ" thiết tha trả lời. Nỗi nhớ bao trùm tất cả, nhớ đèo, nhớ sông, nhớ phố, nhớ những trận đánh đẫm máu, nhớ những chiến công oai hùng một thời oanh liệt. Nhớ trận Phủ Thông, đèo Giàng, với lưỡi mác và ngọn giáo búp đa, anh bộ đội Cụ Hồ trong tư thế dũng sĩ lẫm liệt đã làm cho giặc Pháp bạt vía kinh hồn những năm đầu kháng chiến. "Nhớ sông Lô" là nhớ chiến thắng Việt Bắc thu đông 1947: "Tàu giặc đắm sông Lô - Tha hồ mà uống nước - Máu tanh đến bây giờ - Chưa tan mùi bữa trước" (Cá nước). Nhớ phố Ràng, nhớ trận công kiên chiến có pháo binh tham gia vào cuối năm 1949, đánh dấu bước trưởng thành trong khói lửa của quân đội ta, để từ đó, tiến lên đánh lớn và thắng lớn trong chiến dịch Biên giới giải phóng Cao Bằng, Lạng Sơn: "Nhớ từ Cao Lạng, nhớ sang Nhị Hà". "Nhớ từ... nhớ sang..." nỗi nhớ dào dạt, mênh mông, nhớ tha thiết, bồi hồi. Đoạn thơ với những địa danh Phủ Thông, đèo Giàng, sông Lô, phố Ràng, Cao Lạng, Nhị Hà... như những trang kí sự chiến trường nối tiếp xuất hiện, để lại bao tự hào trong lòng người đọc về bước đi lên của lịch sử dân tộc trong thời đại Hồ Chí Minh. Có biết bao máu đổ xương rơi, bao chiến sĩ anh hùng ngã xuống mới có thể đưa những tên núi, tên sông, tên đèo vào lịch sử, vào thơ ca, tạc vào lòng ta nỗi nhớ ấy. Phép đối xứng của Tố Hữu vận dụng sáng tạo gợi lên vẻ đẹp thi ca, làm cho câu thơ, vần thơ hài hòa cân xứng, diễn tả những bước đi lên hào hùng của dân tộc kháng chiến: "Ai về ai nhớ...", "Ta về ta nhớ...". Câu thơ lục bát được ngắt thành 2 vế 3/3 và 4/4 đối nhau, đọc lên đầy ấn tượng:
 

"Nhớ sông Lô / nhớ phố Ràng,
 

Nhớ từ Cao Lạng / nhớ sang Nhị Hà". 
 

2. Tám câu thơ tiếp theo nói về những đường Việt Bắc, những nẻo đường hành quân, những nẻo đường chiến dịch:
 

"Những đường Việt Bắc của ta,
 

Đêm đêm rầm rập như là đất rung".
 

Những nhịp điệu "đêm đêm", những điệp thanh "rầm rập... đất rung", cùng với so sánh "như là đất rung" đã gợi tả thật hay, thật hào hùng âm vang cuộc kháng chiến thần thánh và sức mạnh nhân nghĩa 4000 năm của dân tộc. Khí thế chiến đấu thần kì của quân và dân ta làm rung đất chuyển trời, không một thế lực tàn bạo nào có thể ngăn cản được ! Cả một dân tộc ào ào ra trận. Chúng ta tự hào về các tráng sĩ đời Trần mang chí căm thù "Sát Thát", quyết chiến và quyết thắng: "Chương Dương cướp giáo giặc - Hàm Tử bắt quân thù". Chúng ta tự hào về các nghĩa sĩ Lam Sơn: "Đánh một trận sạch không kình ngạc - Đánh hai trận tan tác chim muông". Chúng ta càng tự hào về cuộc kháng chiến nhân dân thần thánh của thời đại Hồ Chí Minh:
 

"Quân đi điệp điệp trùng trùng
 

ánh sao đầu súng bạn cùng mũ nan
 

Dân công đỏ đuốc từng đoàn
 

Bước chân nát đá muôn tàn lửa bay".
 

Không khí kháng chiến, không khí lịch sử được tái hiện qua màu sắc thần kì sử thi. Đoàn quân ra trận đông đảo, người người lớp lớp, như sóng cuộn "điệp điệp trùng trùng". Có "ánh sao đầu súng", có "đỏ đuốc", có "muôn tàn lửa bay", có sức mạnh của bước chân "nát đá". Câu thơ "ánh sao đầu súng bạn cùng mũ nan" là một tứ thơ sáng tạo, vừa hiện thực vừa mộng ảo. ánh sao đêm phản chiếu vào nòng súng thép. ánh sao của bầu trời Việt Bắc, ánh sao lí tưởng chiến đấu vì độc lập, tự do như soi sáng nẻo đường hành quân ra trận của anh bộ đội. Đặc biệt các phụ âm "đ" (đi, điệp điệp, đầu, đỏ, đuốc, đoàn) với 2 chữ "nát đá" góp phần tạo nên âm điệu anh hùng ca, gợi tả sức mạnh Việt Nam trong kháng chiến chống Pháp. Ta càng đánh, càng mạnh và chiến thắng giòn giã. Những ngày đầu kháng chiến, quân và dân ta chỉ có gậy tầm vông, giáo mác, vũ khí thơ sơ. Ta càng đánh, càng thắng, lực lượng kháng chiến ngày thêm hùng hậu. Quân đội ta đã phát triển thành những binh đoàn, có pháo binh, có đoàn xe ra tiền tuyến:
 

"Nghìn đêm thăm thẳm sương dày
 

Đèn pha bật sáng như ngày mai lên".
 

Ngọn đèn pha của đoàn xe kéo pháo, của đoàn xe vận tải "bật sáng" phá tan những lớp "sương dày", đẩy lùi những thiếu thốn, khó khăn, soi sáng con đường kháng chiến, "như ngày mai lên" một bình minh chiến thắng ! Hình ảnh thơ mang ý nghĩa tượng trưng cho một tương lai tươi sáng của đất nước. Con đường Việt Bắc, con đường ra trận đầy máu lửa và chiến công, cũng là con đường đi tới ngày mai huy hoàng tráng lệ của đất nước, dân tộc.
 

3. Bốn câu thơ cuối đoạn thơ, một lần nữa Tố Hữu lại gọi tên các địa danh "chiến thắng trăm miền" trên đất nước thân yêu. Là Hòa Bình, Tây Bắc, Điện Biên. Là Đồng Tháp, An Khê. Là đèo De, núi Hồng. Mỗi địa danh ghi lại một chiến công. Nhà thơ có một cách nói rất hay, rất biến hóa để diễn tả niềm vui chiến thắng dồn dập, giòn giã: "Tin vui chiến thắng... vui về.. vui từ... vui lên"; không chỉ có một hai nơi rời rạc, lẻ tẻ mà là "trăm miền", khắp mọi miền đất nước. Điệp từ "vui" như tiếng reo mừng thắng trận cất lên trong lòng hàng triệu con người từ Bắc chí Nam: 
 

"Tin vui chiến thắng trăm miền
 

Hòa Bình, Tây Bắc, Điện Biên vui về
 

Vui từ Đồng Tháp, An Khê
 

Vui lên Việt Bắc, đèo De, núi Hồng".
 

Đọc thơ Tố Hữu ta đã nhiều lần bắt gặp các địa danh. Trong bài "Việt Bắc" hơn 10 lần nhà thơ dùng cách gọi tên đó. Chế Lan Viên đã có nhận xét rất tinh tế về biện pháp nghệ thuật gọi tên các địa danh trong thơ Tố Hữu: ... "hãy đọc to lên, hãy để cho hồn thơ, nhạc điệu lôi cuốn ta đi, ta sẽ thấy rằng nhạc điệu ở đây đã tạo cho ta một tình cảm rất sâu: đó là lòng yêu đắm say đất nước, yêu như tát mãi không cạn, gọi mãi không cùng, yêu như muốn nêu mãi tên lên mà gọi, chỉ một cái tên thôi cũng đủ chấn động lên rồi". (Thơ Tố Hữu). Có thể nói, cách gọi tên các địa danh đã tạo nên nét đẹp riêng trong thơ Tố Hữu, đã thể hiện tình yêu sông núi và niềm tự hào dân tộc. Và đó cũng là một nét đẹp trong đoạn thơ này.
 

Nếu "thơ là sự thể hiện con người và thời đại một cách cao đẹp", thì đoạn thơ trên đây của Tố Hữu giúp ta cảm nhận ý kiến ấy. Đây là một đoạn thơ hay và đẹp trong bài "Việt Bắc". Đoạn thơ vang lên như một khúc ca thắng trận. Âm điệu thơ lục bát vốn nhẹ nhàng, êm ái nhưng ở đây, Tố Hữu đã chọn từ, dùng điệp âm, điệp thanh, gọi tên các địa danh - nên đã tạo nên một giọng điệu mạnh mẽ, mang âm điệu anh hùng ca, có sức lôi cuốn hấp dẫn kì lạ.
 

Những con đường Việt Bắc thời máu lửa cũng là con đường vui, con đường thơ, nó đã tỏa sáng hồn ta ngọn lửa Điện Biên thần kì, để ta yêu thêm, tự hào hơn Việt Bắc, "Quê hương cách mạng dựng nên Cộng hòa". Nửa thế kỉ đã đi qua, đọc đoạn thơ trên, âm vang lịch sử, âm vang "Quân đi điệp điệp trùng trùng..." ra trận vẫn còn chấn động lòng ta. Nỗi nhớ trong đoạn thơ là một nỗi nhớ đẹp; nỗi nhớ của một tình yêu lớn: yêu Việt Bắc, yêu kháng chiến, yêu Đất nước Việt Nam thân yêu.
 

                                                            (sưu tầm)

Tìm hiểu thêm:

- Văn học dân gian Việt Nam 

- Thơ thiền là gì ? 


 
Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết

  Ý kiến bạn đọc

  Ẩn/Hiện ý kiến

Mã chống spam   

Những tin mới hơn

 

Những tin cũ hơn

Thời điểm thi THPT QG

Bạn muốn tổ chức thi thử vào THPT QG khi nào?

Top