TÌM HIỂU TRUYỆN NGẮN LỄ CẦU PHÚC CỦA LỖ TẤN

 - Người đăng bài viết: Thu Trang  - Chuyên mục :  Đã xem: 23 

Daytot.vn giới thiệu tới các em HS TÌM HIỂU TRUYỆN NGẮN LỄ CẦU PHÚC CỦA LỖ TẤN

 

  TÌM HIỂU TRUYỆN NGẮN LỄ CẦU PHÚC  CỦA LỖ TẤN 

 Truyện ngắn Lễ cầu phúc lần đầu tiên được in trên Ðông phương tạp chí số 5/1924. Ðây là một truyện ngắn trữ tình. Nhân vật trung tâm của Lễ cầu phúc là thím Tường Lâm. Ðề tài của thiên truyện là người phụ nữ nông dân Trung Quốc dưới chế độ xã hội cũ. Vấn đề nổi lên của tác phẩm là Số phận bi thảm của người phụ nữ nông dân Trung Quốc dưới chế độ xã hội cũ.

            Lễ cầu phúc có kết cấu đầu và cuối tương ứng với nhau. Với kết cấu này, tác giả đã làm nổi bật nghịch cảnh bật công trong một xã hội đầy rẫy ngang trái.Nếu như ở bài Tự kinh phó Phụng Thiên vịnh hoài ngũ bách tự, thi hào Ðỗ Phủ đã tạo dựng hình ảnh đối lập để làm bật nổi nghịch cảnh bất công của xã hội thời Ðường:

            Cửa son rượu thịt ôi

            Ngoài đường xương chết buốt thì ở truyện ngắn Lễ cầu phúc, Lỗ Tấn đã tạo dựng lối kết cấu đầu và cuối tương ứng với nhau để làm bật nổi nghịch cảnh của xã hội. Ðây là nghịch cảnh kẻ ăn không hết người lần không ra- kẻ thì mớ bảy mớ ba, người thì áo rách như là áo tơi. Mở đầu và kết thúc tác phẩm Lễ cầu phúc đều là cảnh Lỗ Trấn tưng bừng náo nhiệt, rộn ràng trong không khí chuẩn bị đón lễ cầu phúc, đón năm mới. Trong khi Lỗ Trấn tưng bừng náo nhiệt chuẩn bị đón lễ cầu phúc thì nhân vật thím Tường Lâm phải sống trong cảnh ăn xin  và thím đã chết giữa cảnh đó. Trong khi mọi người sống sung sướng thì htím Tường Lâm lại phải sống trong đau khổ. Trong khi mọi người được sống sum vầy sung túc thì thím Tường Lâm đã chết đói trong nỗi cô đơn. Ðó chính là nghịch cảnh của xã hội mà Lỗ Tấn đã tái hiện khá chân thực, khiến cho truyện ngắn này vưa có giá trị hiện thực cao, vưa có giá trị nhân đạo sâu sắc. Lối kết cấu đầu cuối tương ứng của truyện còn làm bật nổi sự hắt hủi, ruồng rẫy của mọi người ở Lỗ Trấn đối với thím Tường Lâm. Bằng thái độ của họ, họ như muốn xóa tên thím Tường Lâm trong cuốn sổ hộ tịch của Lỗ Trấn. Họ khinh bỉ thím và muốn hắt thím xuống đáy sâu của vực thẳm cuộc đời. Họ nhìn nhận thím bằng con mắt khinh bỉ. Tác giả đã dùng một đoạn văn trữ tình ngoại đề để làm bật nổi điều đó: Một đời người không nơi nương tựa như một thứ đồ chơi cũ kỹ, chơi lâu ngày chán người ta vứt vào đống rác. Bấy lâu nay vẫn lăn lóc ở đấy khiến cho những kẻ sống sung sướng phải ngạc nhiên sao thím ta lại cố bám mãi vào cuộc đơi làm chi . Yếu tố thời gian nghệ thuật cũng góp phần khắc đậm ý này. Lần cuối cùng tác giả gặp thím Tường Lâm là vào một buổi chiều cuối năm tuyệt xuống nhiều. Giá như đó là thời gian buổi sáng hay buổi trưa thì còn có người bố thí cho thím. Nhưng đây đã là lúc trời gần tối mà trong cái giỏ của thím lại hoàn toàn không có một thứ gì, ngoài một chiếc bát mẻ. Chi tiết này chứng tỏ là suốt ngày hôm ấy- một trong những ngày cuối năm cũ chuần bị bước sang năm mới (và có thể là cả ngày hôm trước ) không có một người nào ở Lỗ Trấn cho thím một hạt gạo hay một bát cơm.

            Khi xây dựng nhân vật thím Tường Lâm , tác giả đã kết hợp khắc họa trực tiếp với khắc họa gián tiếp để làm nổi bật cuộc đời ba chìm bảy nổi chín lênh đênh của nhân vật thím Tường Lâm . Có 3 lần nhà văn miêu tả thím Tường Lâm một cách trực tiếp. Nhưng trình tự của 3 lần này lại đảo lộn. Vào truyện, tác giả miêu tả việc gặp thím Tường Lâm lần thứ 3 và cũng là lần cuối cùng. Tiếp đến,nhà văn tái hiện việc gặp thím Tường Lâm lần đầu. Ðây cũng chính là lần đầu tiên nhân vật thím Tường Lâm đến làm thuê cho gia đình Lỗ Tư. Ðó là vào một buổi chiều mùa đông. Sau đó nhà văn mới tái hiện việc gặp nhân vật thím Tường Lâm lần thứ hai và cũng vhính là lần thứ hai thím Tường Lâm đến làm thuê cho nhà Lỗ Tư. Ðó là vào một buổi chiều mùa thu. Lần thứ ba, lần cuối cùng tác giả gặp thím Tường Lâm thuộc thì hiện tại, được miêu tả ở đầu truyện. Lần thứ nhất và lần thứ hai tác giả gặp thím Tường Lâm thuộc thì quá khứ lại được miêu tả ở phần sau. Sự đảo lộn về trình tự thời gian này là dấu hiệu của thủ pháp đồng hiện. Thủ pháp đồng hiện về thời gian đã rút ngắn được khoảng cách thời gian để làm nổi bật sự tàn tạ nhanh chóng về thể xác của nhân vật thím Tường Lâm.Ngoại hình của nhân vật thím TườngLâm được tác giả miêu tả : Mái tóc hoa râm 5 năm trước giờ đây đã bạc trắng trông không còn ra dáng con người trên 40 tuổi nữa, khuôn mặt hốc hác, nước da vàng xạm.Thân hình của thím như là một cái xác không hồn mà sự sống chỉ còn vương lại, sót lại, lưu lại ở đôi tròng mắt đưa đi đưa lại. Nhà văn khắc họa nhân vật thím Tường Lâm một cách gián tiếp qua lời kể của nhân vật bà Vệ. Tác giả đã để cho nhân vật bà Vệ kể về hoàn cảnh của thím Tường Lâm. Lối khắc họa gián tiếp này đã khiến cho hình ảnh của nhân vật thím Tường Lâm hiện lên trong tính khách quan, đồng thời làm nổi bật những đau khổ của quãng đời nhân vật thím Tường Lâm bị người mẹ chồng trước gã bán cho nhân vật anh Sáu ở Hạ Gia Uïc. Lỗ Tấn đã kết hợp miêu tả ngoại hình với khắc họa nội tâm của nhân vật. Có 3 lần nhà văn miêu tả nhân vật thím Tường Lâm thì cả 3 lần nhà văn đều miêu tả ngoại hình của thím. Nhà văn đã dùng lối tăng cấp để làm bật nổi sự tàn tạ về thân thể của thím: lần đầu thím Tường Lâm đến làm thuê cho nhà Lỗ Tư thì trên đầu thím có một vành khăn tang và đôi gò má của thím còn hồng hào, lần thứ hai thím đến làm thuê cho nhà Lỗ Tư, trên đầu thím cũng có một vành khăn tang, nhưng gò má của thím không còn hồng hào như trước nữa, lần thứ ba tác giả gặp thím Tường Lâm thì khuôn mặt thím đã trở nên hốc hác, nước da vàng xạm và trông thím như một cái tượng bằng gỗ. Hình ảnh vành khăn tang trên đầu thím Tường Lâm xuất hiện tới hai lần đã gây được ấn tượng sâu đậm về cuộc đời đầy đau thương của thím. Nó là hiện thân của sự bất hạnh chồng chất nối tiếp đè lên đầu, đè lên kiếp sống của nhân vật thím Tường Lâm.

            Trong truyện nhiều lần nhà văn đã nhắc đi nhắc lại câu Người ta vẫn gọi thím là thím Tường Lâm có ý nghĩa như là một điệp khúc để làm nổi bật kiếp sống mòn mỏi, bế tắc trong những nỗi đau khổ đến ê chề của thím. Thím Tường Lâm không có họ mà chỉ có tên bởi trong xã hội ấy thì Nữ nhân ngoại tộc, nên thím làm gì có họ và cũng chẳng có ai họ hàng với thím. Thím sống cô độc và chết cũng cô độc. Nỗi cô độc ấy không phải do thím gây ra mà chính là do xã hội ấy đã đẩy thím vào cảnh sống và chết trong nỗi cô độc. Tác giả còn tạo dựng những hình ảnh tượng trưng hàm chưa nhiều ý nghĩa thâm thúy. Hình ảnh con sói ăn thịt bé Mao vừa là thật nhưng cũng vừa là hình ảnh tượng trưng. Phải chăng đây còn là con sói mang cả bản chất của chế độ xã hội. Hình ảnh vành khăn tang bám riết lấy cuộc đời của thím như là hiện thân của một định mệnh. Ở truyện ngắn đầu tay Nhật ký người điên, Lỗ Tấn cũng đã khắc họa hình ảnh con chó của nhà học Triệu mà con chó vốn là con sói được thuần dưỡng. Trong AQ  chính truyện, nhà văn để cho nhân vật AQ trên đường ra pháp trường đã nhớ lại 4 năm về trước suýt bị con sói ăn thịt. Hình ảnh con sói trở đi, trở lại nhiều lần trong truyện ngắn của Lỗ Tấn, hàm chứa một dụng ý nghệ thuật sâu xa của nhà văn. Chế độ xã hội thời ấy có biết bao nhiêu là con sói ăn thịt người. Không chỉ sói ăn thịt người mà còn có người ăn thịt người trong truyện ngắn Nhật ký người điên và có cả việc người giết người để lấy máu mà bán như trong truyệnThuốc. Bằng hình ảnh này, Lỗ Tấn còn diễn tả được mối quan hệ giữa người với người trong xã hội Trung Quốc thời ấy là Người là chó sói của người. Những người lương thiện như người điên trong Nhật ký người điên hay thím Tường Lâm trong Lễ cầu phúc đều phải sống trong cảnh trần trụi giữa bầy sói. Tác giả rất chú ý trong việc tạo dựng thời gian nghệ thuật. Lần thứ 3 gặp thím Tường Lâm là một buồn chiều mùa đông tuyết xuống nhiều. Lần đầu thím Tường Lâm đến làm thuê cho nhà Lỗ Tư cũng vào một buổi chiều mùa đông. Lần thứ 2 thím Tường Lâm đến làm thuê cho nhà Lỗ Tư là vào một buổi chiều mùa thu. Yếu tố thời gian ấy đều gợi được sự lạnh lẽo, tàn tạ, ảm đạm và thê lương. Nhân vật bé Mao- con của thím Tường Lâm - lại bị sói ăn thịt vào mùa xuân. Yếu tố thời gian mùa xuân bé Mao bị sói ăn thịt đã gợi được cảm giác về sự rối loạn, không theo một quy luật nào như chính sự rối lọan của xã hội Trung Quốc thời ấy biến con người thành nạn nhân, khiến cho con người không bao giờ lường trước được những tai biến bất ngờ. Nhà vănkhong đẻ cho bé Mao chết vì đá đè, vì tuyết vùi hay vì nước của băng tan vào giữa tiết xuân cuốn trôi đi mà để bé Moa chết vì sói ăn thịt. Thông lệ thì sois thường về làng vào những ngày mùa đông (như chính lời kể của thím Tường Lâm). Nhưng ở đây sói lại về làng vào giữa tiết xuân. Nói đến mùa xuân là nói đến sự ấm áp tốt tươi, gắn với niềm vui và hạnh phúc của con người. Theo sự chu chuyển của thời gian, hết mùa đông thì sẽ đến mùa xuân. Hết mùa đông cũng có nghĩa là hết năm cũ để chuyển sang mùa xuân- mở đầu cho một năm mới. Năm cũ hết thì tết sẽ đến. Tết đến xuân sang với mọi nhà bởi mùa xuân là của vũ trụ. Nhưng trong Lễ cầu phúc, tết đến xuân sang chỉ có đối với những nhà giàu ở Lỗ Trấn, còn thím Tường Lâm thì hoàn toàn không có tết và cũng không có mùa xuân. Một ngày màu xuân đứa con trai duy nhất của thím bị sói ăn thịt và vào một ngày cuối đông chuẩn bị sang xuân, thím Tường Lâm lại phải chết đói. Ðó là những mùa xuân mà không có xuân trong những chuỗi ngày bất hạnh của kiếp đời thím Tường Lâm. Bé Mao - giọt máu duy nhất của thím, nguồn thương yêu duy nhất của thím, niềm hy vọng duy nhất của thím đã bị sói ăn thịt. Cái chết cúa bé Mao đã trở thành vết thương lòng không bao giờ khỏi của thím Tường Lâm. Nhân vật chính Tường Lâm sống một cuộc đời đầy bi kịch. Cái bi trong nhân vật này được thể hiện ở cả hai mặt : Mặt thứ nhất của cái bi trong con người thím TưòngLâm mang ý nghĩa như điều mà Mác đaù chỉ ra : chừng nào còn sự ngu dốt thì chừng ấy tôi e rằng nhân loại còn phải chứng kiến nhiều tấn bi kịch- ngu dốt đẻ ra bi kịch, mặt khác cái bi trong nhân vật thím Tường Lâm còn được hiểu theo nghĩa của Anghen: Sự xung đột của tính bi kịch giữa cái định lý tất yếu về phương diện lịch sử và việc không thể thực hiên được định lý đó về phương diện thực tiễn.(Thư gửi Latxan, ngày 18-5-1859). Nghe u Liễu bảo phải mang tiền đến cúng ở miếu Thành Hoàng cho thoat kiếp hai chồng, thím Tường Lâm đã nnghe theo

Và đã dốc hết cả những đồng tiền cuối cùng của mình để làm việc đó. Nhưng cuộc đời của thím Tường Lâm đâu có thay đổi. Thím Tường Lâm đẫ phải chịu đựng hết nỗi đau khổ này đén nỗi đau khổ khác. Cuộc đời của thím hoàn toàn bị đày đọa trong sự cương tỏa của bao nỗi khổ đau. Hai lần lấu chồng, thím Tường Lâm không hề tìm thấy hạnh phúc. Người chông trước ít hơn thím đến 10 tuổi. Thím là nạn nhân của chế độ tảo hôn. Mẹ chông trước của thím 30 tuổi, trong khi thím đã 26-27 tuổi. Thím lấy anh Sáu ở Hạ Gia Uïclà kết quả của một sự gả bán hết sức giã man. Mẹ chồng trước của thím đã bán thím cho anh Sáu với giá 80 quan tiền. Thím bị xem làd một con vật không hơn khôn g kém. Cuộc gả bán này đã đẩy thím vào bi kịch. Thím đã đập đầu vào hương án để mong tìm phương giải thoát bằng cái chết. Nhưng thím đã không được chết. Lần thứ 3 cũng là lần  cuối cùng, thím Tường Lâm gặp tác giả và hỏi: Con người ta chết roòi thì còn có linh hồn nữa không , ông ? . Câu hỏi của thím Tường Lâm đã thể hiện một cách khá sâu sắc kịch tính nội tâm trong lòng thím. Kịch tính nội tâm, đó là sự giằng sé níu kéo, dày vò, dằn vặt giữa muốn sống và không muốn sống hay nói cách khác muốn chết và không muốn chết. Nếu chết có linh hồn thì thím muốn chết được gặp lại đứa con thân yêu của thím ở chốn âm ty, nhưng đồng thời thím lại không muốn chết bởi theo lời của u Liễu, thì lấy hai người chồng thì khi chết xuống âm phủ, hai người chồng sẽ thưa với Diêm vương và Diêm vương sẽ cưa thím làm đôi, khiến  cho thím rất sợ hãi. Nỗi thương tiếc bé Mao không bao giờ nguôi trong lòng thím. Ðiều này được thể hiện khá rõ trong nhiều lần thím kể lại việc bé Mao bị sói ăn thịt và bao giờ thím cũng mở đầu băng câu: Con thật ngu đần quá hay Tôi thật ngu đần quá. Câu đó được nhắc đi nhắc lại như chính sự dày vò của nỗi đau nỗi thương tiếc không bao giờ giảm bới trong lòng thím. Câu hỏi của thím được đặt ra ở những giây phuts cuối cùng của cuộc đời thím: Con người ta chết rồi thì còn có linh hồn nữa không, ông?. Ðiều này chứng tỏ nỗi dày vò đau đớn trong lòng thím cứ bám riết lấy thím ngay cả ở phút cuối cùng của cuộc đời và nó sẽ theo thím xuống đến âm phủ.

            Ở nhân vật thím Tường Lâm có sự dồn tụ, quy tụ bi kịch số phận của bao nhiêu người phụ nữ Trung Quốc dưới chế độ xã hội cũ. Cuộc đời của thím Tường Lâm là một tấn bi kịch. Lỗ Tấn đã thể hiện mối đồng cảm, thông cảm sâu sắc đối với cuộc đời bi thảm của thím Tường Lâm. Mỗi chữ mỗi câu trong truyện ngắn này  đều mang nhịp đập với một tần số xúc động rất cao của một trái tim hừng hực nhiệt tình thương người, thông cảm với những nỗi thống khổ của bao nhiêu phụ nữ Trung Quốc dưới chế độ xã hội cũ.


 
Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết

  Ý kiến bạn đọc

  Ẩn/Hiện ý kiến

Mã chống spam   

Những tin mới hơn

 

Những tin cũ hơn

Thời điểm thi THPT QG

Bạn muốn tổ chức thi thử vào THPT QG khi nào?

Top