Văn hoá giáo dục Việt Nam sau cuộc khai thác thuộc địa lần 2

 - Người đăng bài viết: nguyễn thị linh  - Chuyên mục :  Đã xem: 18 

Trung tâm Dạy tốt giới thiệu tới bạn đọc bài viết về Văn hoá giáo dục Việt Nam sau cuộc khai thác thuộc địa lần 2.

 

 

Những năm sau chiến tranh TG1, cùng với sự biến đổi trong cơ cấu kinh tế và giai cấp xã hội, tình hình giáo dục, đời sống tư tưởng, văn hoá và tâm lí ở VN cũng có nhiều chuyển biến.

* Những chuyển biến trong giáo dục:

Cuối 1917, Toàn quyền Xa-rô ban hành nghị định về “Học chính Tổng quy” để cải cách hệ thống giáo dục(đây là cuộc cải cách giáo dục lần 2, lần 1 của Toàn quyền Bô vào 1906). Trong thời kỳ cải cách giáo dục lần 2(1917-1929) thực dân Pháp chủ trương nhanh chóng xoá bỏ hoàn toàn nền giáo dục Nho học(thực tế thì kì thi Hương cuối cùng là vào năm 1919), đồng thời tiếp tục mở rộng hệ thống giáo dục Pháp-Việt. Theo tinh thần của “Học chính Tổng quy”, nền giáo dục bao gồm 2 bộ phận: các trường Pháp chuyên dạy học sinh người Pháp theo chương trình “Chính quốc” Pháp và các trường Pháp-Việt chuyên dạy người Việt theo chương trình “Bản xứ”. Toàn bộ hệ thống giáo dục chia làm 3 cấp: Tiểu học, trung học, cao đẳng và đại học. Thời gian theo học cụ thể là: tiểu học 5 năm, sau khi hoàn thành chương trình và thi đỗ tốt nghiệp được nhận bằng tiểu học và được thi vào trường trung học; bậc Trung học, học trong 4 năm(trung học Đệ nhất cấp).

Năm 1923, Toàn quyền Méc-lanh thay Xa-rô, có một số thay đổi và điều chỉnh trong chương trình cải cách giáo dục ở VN. Theo đó từ 1924 trở đi, với chương trình “bình diện” nhằm mục đích hạn chế bớt việc đi học của thiếu nhi, thanh niên VN, học sinh sau khi học xong 3 năm bậc sơ đẳng phải thi lấy bằng “Sơ học yếu lược”, rồi mới được lên lớp trên, học hết 2 năm nữa lại phải thi lấy bằng tốt nghiệp “Tiểu học Bổ túc Bản xứ”, nhưng ngay ở 3 năm đầu đó học sinh người Việt đã phải học bằng tiếng Pháp nên rất nhiều trẻ em nông thôn không thể theo học; việc quy định hạn tuổi các cấp cũng rất chặt chẽ càng làm giảm bớt số học sinh muốn đi học.

Để củng cố và hoàn chỉnh một bước giáo dục Trung học, năm 1927 Toàn quyền Đông Dương lại ra Nghị định đặt thêm bằng “Tú tài Bản xứ”, tức bằng “Trung học Đệ nhị cấp”, được coi tương đương với bằng “Tú tài Tây học” theo đúng chương trình bên Pháp; những người có bằng “Tú tài Bản xứ” có thể thi vào các trường cao đẳng, đại học ở Đông Dương và bên Pháp.

Bên cạnh các trường phổ thông(Tiểu-Trung học), chính quyền thuộc địa cũng cho xây dựng các trường chuyên nghiệp và dạy nghề, như các trường Bách Công, Bách Nghệ; ở một số thành phố lớn, các học sinh có bằng tốt nghiệp tiểu học được quyền thi vào các trường này.

Để thủ tiêu và thay thế các trường đào tạo quan lại phong kiến, thực dân Pháp đã giải tán 2 trường “Sĩ hoạn” ở Hà Nội và “Hậu bổ” ở Huế vào năm 1917, quyết định thành lập trường “Pháp-Chính” để đào tạo quan lại cai trị cho chính quyền thuộc địa ở VN và Đông Dương, đặt trực thuộc Đại học Đông Dương, do Giám đốc Đại học Đông Dương quản lí.

Một số trường cao đẳng khác cũng được thành lập, thuộc các ngành sư phạm, công chính, thương mại. Năm 1918 lập thêm trường Cao đẳng Nông nghiệp; còn trường Y học Đông Dương sau 16 năm hoạt động được đổi tên thành trường Kiêm bị cao đẳng Y dược.

Như vậy, so với những năm đầu thế kỷ XX, giai đoạn sau chiến tranh TG1 nền giáo dục VN có nhiều thay đổi về hệ thống tổ chức, cơ cấu ngành nghề và nội dung đào tạo.

Về số lượng trường học và những người đi học, đến niên khoá 1922-1923(5 năm sau thực hiện cải cách giáo dục lần 2), ở VN có 3.039 trường tiểu học, 7 trường cao đẳng tiểu học và 2 trường trung học; số học sinh gồm 163.110 người. Từ niên khoá 1923-1925 đến 1930, số học sinh tăng từ 187.000 người lên 434.335 người, trong đó có cả học sinh trường công và tư với các cấp học từ vỡ lòng đến trung học.

Riêng số sinh viên mới chỉ chiếm một số rất nhỏ trong số những người đi học. Năm học 1922-1923 có 436 sinh viên cao đẳng, trong đó: 106 người học ngành Y, 104 ngành Công chính và 41 người ngành Sư phạm. Niên khoá 1929-1930, tổng số sinh viên là 551 người.

Ngoài ra phải kể đến bộ phân học sinh các trường chuyên nghiệp và kĩ nghệ thực hành, trong đó đến năm học 1929-1930, riêng Bắc Kì có 900 học sinh chuyên nghiệp và học nghề.

Đáng chú ý là đa số học sinh các lớp cao(cao đẳng tiểu học, trung học) và sinh viên đại học đều là con em nhà khá giả, có địa vị trong xã hội; còn các gia đình nông dân thì may lắm cũng chỉ cho con em theo học các lớp chữ Hán hay Quốc ngữ ở trường làng; do đó số trẻ em thất học vẫn chiếm tỷ lệ rất lớn, 7-8 phần 10 số người ở độ tuổi đi học.

Số lượng giáo viên cũng tăng nhanh so với đầu thế kỷ. Theo thống kê của chính quyền Pháp, năm 1930 ở VN có 12.000 giáo viên các cấp.

Trong nghiên cứu khoa học, ngoài các cơ quan và viện nghiên cứu đã thành lập từ đầu thế kỷ, thực dân Pháp còn xây thêm một số cơ sở mới như: Túc Mễ cục, Viện Hải dương học, Hội đồng nghiên cứu khoa học(1928, thành viên là các kĩ sư, bác sĩ, các nhà quản lí các cơ quan khoa học và giáo dục). Mục đích của các cơ quan và tổ chức khoa học này là nhằm tìm hiểu và khai thác các nguồn tài nguyên, của cải của đất nước ta, phục vụ yêu cầu lợi nhuận của các nhà tư bản Pháp.

Sự nghiệp Y tế và chăm sóc sức khoẻ cộng đồng cũng có những tiến bộ đáng kể. Số bệnh viện, cơ sở khám chữa bệnh công và tư có tăng lên. Việc thành lập Viện Patxtơ với các chi nhánh của nó đã góp phần nghiên cứu, sản xuất một số vắc-xin chữa bệnh cho người Pháp và người Đông Dương. Số bác sĩ, y sĩ, y tá, dược sĩ và nhân viên y tế cũng tăng lên. Tuy nhiên đến 1929, trên toàn Đông Dương(20.900.000 dân, trong đó có 43.000 người Âu) chỉ có 761 thầy thuốc(trung bình 1 thầy thuốc/30.000 dân). Một số bệnh nan y như: dịch tả, sốt rét, đậu mùa, lao phổi có xu hướng tăng. Phần lớn các gia đình nông dân và thị dân nghèo không có tiền khám chữa bệnh tại các cơ sở y tế, buộc phải tự chạy chữa theo lối cổ truyền.

* Đời sống văn hoá-nghệ thuật

Sau chiến tranh TG1, đời sống kinh tế-xã hội VN có nhiều biến đổi: một số ngành kinh tế mới như: ngân hang, công nghiệp chế biến, cơ khí… đã hình thành; các đô thị được mở mang; các lực lượng xã hội mới như công nhân, tư sản, tiểu tư sản cũng ra đời và ngày càng phát triển; hệ thống giáo dục Pháp-Việt mở rộng hơn trước; tầng lớp học sinh-sinh viên, công chức, trí thức ngày càng đông đảo; các cơ sở in ấn và xuất bản xuất hiện ở khắp 3 kì; hang chục tờ báo Pháp ngữ và Quốc ngữ ra đời.

Trong bối cảnh trên, các trào lưu tư tưởng mới, các thành tựu khoa học kĩ thuật, văn hoá, nghệ thuật từ phương Tây thông qua các sách báo nước ngoài đã ồ ạt tràn vào trong nước, thúc đẩy và tăng cường mối quan hệ tiếp xúc giữa 2 nền văn hoá Á-Âu, Đông-Tây ở VN. Việc in ấn, xuất bản và giới thiệu các công trình về khoa học tự nhiên, triết học, luật học của các học giả phương Tây đã góp phần làm thay đổi phương pháp tư duy, nghiên cứu trong một số trí thức tân học, hình thành phương pháp tư duy duy lí tồn tại bên cạnh lối tư duy duy cảm của người VN.

Giai đoạn 1919-1930 được xem như giai đoạn giao thời, chuyển tiếp của lịch sử dân tộc. Trong giai đoạn đó dường như có sự giao thoa, đan xen và tồn tại đồng thời giữa các yếu tố văn hoá truyền thống và văn hoá ngoại lai, giữa nền văn hoá nô dịch của các nhà tư bản thực dân và một nền văn hoá mới đang nảy sinh và dần dần phát triển trong long xã hội thuộc địa VN.

Thực dân Pháp ra sức sử dụng vũ khí văn hoá để phục vụ cho mục đích khai thác thuộc địa, tuyên truyền chính sách hợp tác Pháp-Việt. Chính quyền Pháp ưu tiên xuất bản các sách báo phổ biến tư tưởng Âu châu, cho Phạm Quỳnh ra “Nam Phong tạp chí” thay “Đông Dương tạp chí” của Nguyễn Văn Vĩnh; cho lập “Hội khai trí tiến đức” tập hợp những người thuộc các tầng lớp trên trong xã hội lúc đó. Trên tờ Nam Phong tạp chí và các báo chí thực dân, một số học giả VN thân Pháp ra sức viết bài tán dương chủ trương “Pháp-Việt đuề huề”, thừa nhận chế độ cai trị của Pháp, tuyên truyền và ca ngợi văn minh Pháp là nền văn mình cao nhất của phương Tây…

+ Tuy nhiên bên cạnh đó, một nền văn hoá mới của dân tộc VN cũng đang trên đường hình thành và phát triển mạnh mẽ:

Sau chiến tranh TG1, văn học mới đã chiếm được ưu thế trên văn đàn và đã được công chúng thành thị đón nhận với tấm lòng ưu ái. Nhiều truyện ngắn đã được đăng tải trên các báo chí ở Hà Nội, lúc đầu là của Nguyễn Bá Học, Phạm Duy Tốn, rồi Tản Đà, Nguyễn Công Hoan. Các truyện như: Sống chết mặc bay(Phạm Duy Tốn-1918), Câu chuyện một tối của người tân hôn(Nguyễn Bá Học-1921) đều có giá trị hiện thực phê phán nhất định.

Về tiểu thuyết, năm 1916 Tản Đà cho ra đời tác phẩm “Giấc mộng con”. Nhưng nổi bật hơn cả trong những năm 20 là tiểu thuyết “Tố Tâm”(năm 1925) của Hoàng Ngọc Phách, lần đầu tiên trong văn học VN, lối kết cấu “chương-hồi” được thay thế bằng lối kết cấu theo “quy luật tâm lí”; lần đầu tiên các tập tục tâm lí truyền thống của Nho giáo đã bị phê phán gay gắt, tự do cá nhân được ca ngợi, bảo vệ; có thể nói “Tố Tâm” chưa đạt tới một tiểu thuyết “lãng mạn chủ nghĩa” song nó đã mở ra con đường tiến tới “chủ nghĩa lãng mạn” của văn học VN.

Từ sau 1925 còn có thêm các tiểu thuyết: Quả dưa đỏ của Nguyễn Trọng Thuật, Sóng hồ Ba Bể của Phạm Bùi Cầm, Nho phong và Người quay tơ của Nguyễn Tường Tam. Báo Phụ nữ Tân văn dành nhiều kỳ để in tiểu thuyết của Hồ Biểu Chánh. Ngoài ra một số tiểu thuyết lịch sử viết về các anh hung dân tộc và các chiến công của cha ông thuở trước đã xuất hiện như: Tiếng sấm đêm đông, Lê Đại Hành, Việt-Thanh chiến kỷ, Vua Bố Cái.v.v. của Nguyễn Tử Siêu.

Về nghệ thuật tuồng có Hoàng Tăng Bí, chèo có Nguyễn Đình Nghi.

Về kịch nói, năm 1922 vở kịch Chén thuốc độc của Vũ Đình Long đã được diễn thành công tại Nhà hát Lớn Hà Nội. Từ đó các vở kịch nối tiếp nhau ra mắt độc giả: Toàn án lương tâm và Tây Sương tân kịch của Vũ Đình Long; Bạn và Vợ, Thủ phạm là tôi, Giời đất mới của Nguyễn Hữu Kim; Uyên ương, Hoàng Mộng Diệp của Vi Huyền Đắc; Ông Tây An Nam, Chàng ngốc của Nam Xương.v.v.

Về thơ, cuối những năm 20 xuất hiện tập thơ khóc vợ Linh Phượng ký của Đông Hồ và tập thơ khóc chồng Giọt lệ thu của Tương Phố.

Có thể nói, hầu hết các tác phẩm truyện ngắn, tiểu thuyết, kịch nói và thơ trong thời gian này đều hướng vào mục đích phê phán tình trạng thối nát của xã hội đương thời, nêu lên những xung đột giữa các quan điểm phong kiến cũ và tư tưởng tư sản mới nảy sinh, đả kích những kẻ trưởng giả học đòi làm sang, phơi bày những cảnh lầm than, khốn khó của quần chúng lao động bị bọn thực dân, địa chủ, quan lại ức hiếp, bóc lột; đồng thời nói lên tình cảm yêu nước thương nòi và sự bất lực, chán chường của tầng lớp tiểu tư sản trí thức thành thị trước thời cuộc.

Trong các ngành nghệ thuật hội hoạ, kiến trúc, điêu khắc… cũng có những biến đổi nhất định. Các mô típ và tư tưởng nghệ thuật phương Tây ngày càng có ảnh hưởng sâu đậm trong phương pháp tư duy và sang tác của các nghệ sĩ VN, thể hiện qua các bức tranh, bức tượng, nhà cửa do họ làm ra. Tuy nhiên, các mô típ mĩ thuật truyền thống, nhất là trong kiến trúc xây dựng đình chùa, nhà cửa ở nông thôn, vẫn đóng vai trò chủ yếu trong các xu hướng mĩ thuật bấy giờ. Đội ngũ nghệ sĩ mĩ thuật chủ yếu là những nghệ sĩ dân gian như thợ mộc, thợ nề, thợ thêu, thợ chạm, thợ tạc tượng, thợ gốm, thợ đúc chuông.. Các loại hình nghệ thuật mới chịu ảnh hưởng hay mô phỏng của phương Tây mặc dù đã phát triển và mở rộng hơn trước, nhưng chưa đủ sức lấn át các mô típ nghệ thuật truyền thống của dân tộc.

Tóm lại, từ sau chiến tranh TG1 đến 1930 là một khoảng thời gian không dài so với lịch sử phát triển của dân tộc VN. Nhưng trong khoảng thời gian đó đã diễn ra những biến đổi sâu sắc và mạnh mẽ trong các lĩnh vực kinh tế và xã hội, giáo dục và văn hoá, tư tưởng và tâm lí… Cùng với sự chuyển mình của phong trào dân tộc, nhất là sự lớn mạnh của xu hướng cách mạng xã hội chủ nghĩa, một mô hình giáo dục hiện đại và một nền văn hoá mới đang trên đường hình thành và phát triển, tạo tiền đề thắng lợi cho sự nghiệp giải phóng dân tộc, cũng như cho các giai đoạn phát triển tiếp sau của dân tộc VN.


 
Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết

  Ý kiến bạn đọc

  Ẩn/Hiện ý kiến

Mã chống spam   

Những tin mới hơn

 

Những tin cũ hơn

Thời điểm thi THPT QG

Bạn muốn tổ chức thi thử vào THPT QG khi nào?

Top