VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 1930-1945 –phần 3

 - Người đăng bài viết: nguyễn thị linh  - Chuyên mục :  Đã xem: 156 

Dạy tốt giới thiệu tới bạn đọc bài viết về VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 1930-1945 –phần 3

 

                           VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 1930-1945 –phần 3
III. CÔNG CUỘC CHUẨN BỊ VÀ TIẾN HÀNH TỔNG KHỞI NGHĨA GIÀNH CHÍNH QUYỀN
1. Tình hình đất nước trong những năm Chiến tranh Thế giới II
Chiến tranh thế giới lần thứ hai bùng nổ đã chấm dứt cao trào đấu tranh của dân chủ bảo vệ hòa bình. Từ đây thế giới tiến bộ và cách mạng lại bắt đầu thời kỳ mới, tiêu diệt chủ nghĩa phát xít, mở rộng trận địa cách mạng.


Từ châu Âu, chiến tranh lan nhanh sang các châu lục khác. Phát xít Đức - Ý - Nhật sau khi điên cuồng tấn công các nước tư bản khác và hệ thống thuộc địa, chúng đã quay sang tấn công Liên Xô. Một liên minh thế giới lập tức được hình thành gồm Liên Xô - Anh - Pháp - Mỹ và các nước thuộc địa phụ thuộc, tất cả đã phối hợp chống chủ nghĩa phát xít, tạo điều kiện cho nhiều quốc gia dân tộc đứng lên giải phóng đất nước, giành lại độc lập tự do.


Nước Pháp nhảy vào vòng chiến làm thay đổi toàn bộ chính sách của họ ở cả chính quốc lẫn thuộc địa. Ngày 25/9/1939 chính phủ Daladir ra lệnh giải tán Đảng Cộng Sản, bắt bớ khủng bố các lực lượng dân chủ tiến bộ, Mặt Trận Bình Dân Pháp hoàn toàn tan vỡ. Ở Đông Dương toàn quyền Catroux ra nghị định cấm mọi hoạt động tuyên truyền cộng sản, giải tán các hội hữu ái, nghiệp đoàn, giải tán Mặt Trận Dân Chủ, hàng ngàn người yêu nước bị bắt bớ, giam cầm ở trong nước hay bị đày đi biệt xứ. Thống kê của chính phủ Pháp cuối năm 1939, đầu năm 1940, Trung Kỳ và Bắc Kỳ có 43 án tử hình, 153 án chung thân, 2.587 án khổ sai, Nam Kỳ có 800 cán bộ đảng viên bị bắt giam, Thừa Thiên Huế có 65/76 đảng viên bị sa lưới…


Cũng như cuộc chiến tranh lần trước, Đông Dương cung cấp sức người sức của cho chính quốc ngày một nhiều, lần này ngay từ những ngày đầu chiến tranh, Pháp đã ráo riết bắt lính, lập thêm sân bay và trại lính, củng cố các quân cảng, huấn luyện quân trù bị, chuyển một số nhà máy sang phục vụ chiến tranh. Toàn quyền Catroux tuyên bố tháng 11/1939 rằng “Đông Dương phải để cho nước Pháp sử dụng nguồn nhân lực của mình… dù có tham gia trực tiếp hay không vào cuộc chiến, Đông Dương cũng không được tự do có phương hướng riêng của nền kinh tế và tài chính của mình mà phải quy tụ nó vào nhũng mục đích có mẫu quốc chỉ định. Đông Dương phải… vì lợi ích của mẫu quốc, cung cấp những sản phẩm của đất đai và trong lòng đất mà nước Pháp đòi hỏi”. Từ sau khi có lệnh Tổng động viên (ngày 3/9/1939 đến tháng 11/1939) đã có 70.000 lính Việt Namsang Pháp, chỉ 2 tháng mà “thuế máu” của bọn thuộc địa này đã tăng gấp rưỡi so với cả cuộc chiến tranh thứ nhất. Còn nguồn vật lực thì huy động ngày một nhiều theo cường độ chiến tranh. Đến cuối năm 1939 đã có 1.500.000 tấn gạo, 66.000 tấn cao su được đưa về Pháp cùng với 57.166.000 đồng thuế các loại; chỉ 8 tháng đầu năm 1940 đã có 37.995 tấn nguyên liệu trị giá 51 triệu france từ Đông Dương về Pháp. Cái gọi là nền “kinh tế chỉ huy” của Pháp ở Đông Dương thực chất là chương trình vơ vét nhân tài vật lực ở thuộc địa ném vào lò lửa chiến tranh, vì thế nó có sức tàn phá rất ghê gớm nền kinh tế và đời sống xã hội ở Đông Dương. Mâu thuẫn của nhân dân Đông Dương với thực dân Pháp và tay sai càng gay gắt, không thể không dẫn đến bùng nổ những cuộc đấu tranh một mất một còn.


Giữa năm 1940 chiến tranh ở châu Âu trở nên nóng bỏng với việc phát xít Đức quay nòng súng về phía Tây Âu. Ngày 22/6/1940, Pháp mất nước, chính phủ Pétain ở Vichy trở thành bù nhìn của Đức, còn chính phủ De Gaulle kháng Đức vì lưu vong. Ở châu Á, phát xít Nhật đã chiếm trọn Trung Quốc và chẩn bị tiến chiếm Đông Dương, bành trướng xuống toàn bộ Đông Nam Á. Sự chuyển biến nhanh chóng của chiến tranh đã làm cho các thuộc địa đứng trước một tình hình mới đầy mâu thuẫn phức tạp cùng với những dấu hiệu của một thời cơ thuận lợi cho cuộc vận động giải phóng dân tộc. Ở Đông Dương Đô đốc Decoux thay Catruox làm toàn quyền, hy vọng lập lại thời kỳ chính quyền của các Đô đốc như hồi cuối thế kỷ XIX, nhưng từ ngày 18/6/1940 Nhật đã lợi dụng lúc Pháp mất nước để đòi ưu sách và ngày 22/9/1942 chúng đã đổ quân vào Đông Dương, ném bom Hải Phòng, đánh chiếm Lạng Sơn. Tháng 10/1940, Nhật xúi dục Thái Lan đánh chiếm Lào và Campuchia. Tháng 7/1941 Nhật buộc Pháp ký hiệp ước phòng thủ chung Đông Dương. Ngày 8/12/1941 Nhật gây ra chiến tranh Thái Bình Dương, Hiệp định quân sự Nhật - Pháp được ký kết, Đông Dương trở thành một căn cứ bàn đạp của Nhật ở Đông Nam Á.


Như vậy từ cuối năm 1940 Pháp và Nhật đã cấu kết với nhau cùng thống trị Đông Dương. Pháp vẫn tiếp tục thi hành chính sách “kinh tế chỉ huy”, vơ vét sức người sức của ở thuộc địa này, nhưng dần dần Pháp trở thành kẻ giữ nhà cho Nhật, cung phụng cho Nhật. Từ năm 1940 - 1945 Pháp cung cấp cho Nhật 6.500.000 tấn gạo, 260.000 tấn ngô, 1.145.000.000 đồng thuế. Phát xít Nhật còn trực tiếp vớ vét nhân tài vật lực ở Đông Dương và thực hiện nhiều chính sách kinh tế rất tàn bạo. Ba mặt hàng Đông Dương sớm xuất sang Nhật là gạo (41.000tấn/1940), than (479.007tấn/1940) và quặng sắt, mangan (41.000tấn/1940). Hàng vạn hécta lúa phải nhổ lên đổ trồng đay, bông, thầu dầu. Chính sách “thu thóc tạ” của Nhật đã hớt tay trên của người nông dân mỗi vụ hàng trăm ngàn tấn lúa ngay khi chưa gặt hái. Trong xã hội xuất hiện nhan nhản các tổ chức đảng phái thân Nhật hoặc thân Pháp như “Đại Việt Xã Hội Quốc Dân Đảng”, “Việt Nam Phục Quốc Đồng Minh Hội”, “Đông Dương Liên Đoàn Cách Mạng”, “Việt Nam Xã Hội Cách Mạng”, “Việt Nam Cách Mạng Thống Nhất Đảng”… dưới danh nghĩa “dân tộc”, “quốc gia”, nhưng chúng rất tập trung chống phá cách mạng. Ngoài ra nhiều biện Pháp khác lừa mị lôi kéo các tầng lớp nhân dân, ru ngủ thanh thiếu niên được thi hành để đánh lạc hướng đấu tranh dân tộc.


2. Sự chuyển hướng chỉ đạo chiến lược cách mạng Việt Nam
Tình hình diễn ra đúng như Nguyễn Ái Quốc đã dự đoán từ năm 1930 khi cuộc chiến tranh đế quốc lần thứ 2 đang được chuẩn bị rằng “Khi cuộc chiến tranh đó nổ ra, thì nhất định đế quốc Pháp sẽ đẩy anh chị em chúng ta vào một cuộc chém giết đầy tội ác”. Chỉ mới một năm chiến tranh, bọn thực dân phát xít cấu kết nhau gây ra nhiều tai họa cho nhân dân Đông Dương. Chính vì vậy, trước tình cảnh “một cổ hai tròng” áp bức, mâu thuẫn dân tộc ngày càng bức bách, các tầng lớp nhân dân yêu nước cùng lực lượng cách mạng ở các địa phương đã tự động đứng lên đấu tranh.


Ngày 27/9/1940, khởi nghĩa Bắc Sơn đã nổ ra trên một vùng rộng lớn của Châu Bắc Sơn (Bắc Ninh). Đó là cuộc khởi nghĩa cục bộ đầu tiên báo hiệu một cao trào mới của phong trào dân tộc đã bắt đầu. Ngày 22/9/1940 Nhật cho quân tràn qua biên giới Việt Trung đánh chiếm lạng Sơn, quân Pháp hoảng sợ bỏ chạy về Thái Nguyên kéo theo sự tan rã, hoang mang của chính quyền địch ở đây. Trước thời cơ đó, quần chúng nhân dân Bắc Sơn có sự lãnh đạo của Đảng bộ địa phương đã nổi dậy khởi nghĩa vũ trang. Đêm 27/9/1940, quân khởi nghĩa tấn công đồn châu lỵ Mỏ Nhài và đánh chiếm châu lỵ Bắc Sơn. Sau đó Pháp và Nhật đã vội vàng cấu kết với nhau, phản công lại quân khởi nghĩa, nhưng Đảng bộ và nhân dân Bắc Sơn vẫn kiên quyết duy trì lực lượng khởi nghĩa, xây dựng vùng rừng núi Bắc Sơn thành căn cứ địa, lập đội du kích Bắc Sơn để tiếp tục đánh đuổi Nhật. Căn cứ địa Bắc Sơn và đội du kích Bắc Sơn trở thành một trong những địa bàn và lực lượng cách mạng đầu tiên của Cách Mạng Tháng Tám.


Được kích thích bởi tiếng súng Bắc Sơn, cuộc khởi nghĩa Nam Kỳ đã được gấp rút chuẩn bị trên quy mô lớn. Xứ ủy Nam Kỳ Đảng Cộng Sản Đông Dương - người tổ chức lãnh đạo cuộc khởi nghĩa đã chủ trương từ khá sớm, chớp thời cơ chiến tranh phát động khởi nghĩa vũ trang.
Tại Hội nghị Xuân Thới Đông tháng 9 năm 1940, những công việc chuẩn bị cho khởi nghĩa đã ráo riết hơn. Hội nghị đã quyết định lấy lá cờ hình chữ nhật màu đỏ có ngôi sao vàng ở giữa làm biểu tượng cho ý chí đấu tranh kiên quyết giành tự do và độc lập, hội nghị còn cử người ra trung ương xin ý kiến chỉ đạo để khởi nghĩa có thêm sự phối hợp của đất nước.

Với quyết tâm nổi dậy khởi nghĩa, mặc dù kế hoạch tổ chức đã bại lộ và quân Pháp đã chuẩn bị đàn áp, nhưng cuộc khởi nghĩa Nam Kỳ vẫn nổ ra đêm 23/11/1940. Lệnh hoãn từ trung ương không đến kịp với Nam Kỳ, thời cơ khởi nghĩa chưa chín muồi, quần chúng nhân dân và các lực lượng cách mạng của địa phương càng nóng lòng hành động muốn đánh Pháp.

Từ đêm ấy đến cuối tháng 12/1940, nhiều địa phương Nam Kỳ đã nổi dậy mà lực lượng đông đảo nhất là quần chúng nông dân có vũ trang thô sơ, một số nơi khởi nghĩa tấn công vào các huyện lỵ và đồn bót địch như Hóc Môn, Vũng Liêm, Tam Bình, Chợ Mới; một số nơi khác ở U Minh, Đồng Tháp Mười quân khởi nghĩa sau khi nổi dậy đã lập đội du kích và xây dựng căn cứ địa. Đến đầu năm 1941, tuy kẻ thù đã tập trung lực lượng chống đỡ và phản kích lại cuộc khởi nghĩa nhưng các lực lượng cách mạng còn lại vẫn kiên trì hoạt động, giữ gìn xây dựng cơ sở chờ đón thời cơ mới.


Đầu năm 1941 phong trào của binh sĩ yêu nước cũng có những dấu hiệu mới. Binh sĩ đã biểu tình ở Hải Phòng, Đà Nẵng, Mỹ Tho. Binh sĩ đã tuyệt thực ở Sài Gòn, Quảng Trị, Vĩnh Yên. Binh sĩ mang súng bỏ đồn trại chạy vô rừng ở Tây Ninh, binh sĩ tỏ thái độ chống chiến tranh ở Thủ Dầu Một. Tiếp đó ngày 13/1/1941, binh sĩ ở Đồn Chợ Rạng (Nghệ An) do Đội Cung chỉ huy đã nổi dậy chiếm đồn rồi đánh sang đồn Đô Lương và kéo quân về Vinh. Cuộc binh biến lập tức bị đàn áp khốc liệt nhưng binh sĩ Việt Nam trong quân đội Pháp - một lực lượng mới của phong trào dân tộc, càng thấy rõ hơn bộ mặt của kẻ thù dân tộc.

 

TỘC VÀ TỔNG KHỞI NGHĨA THÁNG TÁM NĂM (1939-1945).
 Sử 12- Bài 16 -  PHONG TRÀO GIẢI PHÓNG DÂN TỘC  VÀ TỔNG KHỞI NGHĨA THÁNG TÁM NĂM (1939-1945). NƯỚC VIỆT NAM DÂN CHỦ CỘNG HÒA RA ĐỜI

I.  TÌNH HÌNH VIỆT NAM TRONG NHỮNG NĂM (1939 – 1945)

 

1. Tình hình chính trị .

a. Thế giới

- 1/9/1939 : Chiến tranh thế giới thứ hai bùng nổ , Đức kéo vào Pháp ,Pháp đầu hàng Đức.  .

- Pháp thực hiện chính sách thù địch đối  với các lực lượng tiến bộ  trong nước và  phong trào cách mạng ở thuộc địa .

b. Việt Nam

-  Ở Đông Dương, Toàn quyền Đơ -cu thực hiện chính sách vơ vét sức người, sức của của Việt Nam để dốc vào cuộc chiến tranh .

- 9/1940, Nhật vượt biên giới Việt – Trung  vào miền Bắc Việt Nam, Pháp nhanh chóng đầu hàng .

-  Nhật  sử dụng bộ máy thống trị của Pháp để vơ vét kinh tế phục vụ cho chiến tranh, đàn áp cách mạng..

- Ở VN, bên cạnh đảng phái thân Pháp còn có đảng phái thân Nhật như : Đại Việt, Phục Quốc …ra sức tuyên truyền lừa bịp về văn minh, sức mạnh Nhật Bản, thuyết Đại Đông Á, dọn đường cho Nhật hất cẳng Pháp.

- Việt Nam đặt dưới ách thống trị của Nhật – Pháp.

- Đầu 1945 , phát xít Đức bị thất bại nặng nề (châu Âu), Nhật bị thua to ở nhiều nơi.( ở châu Á – Thái Bình Dương)

- Ở Đông Dương, ngày 9/3/1945 Nhật đảo chính Pháp. Lợi dụng cơ hội đó, các đảng phái chính trị ở VN tăng cường hoạt động. Quần chúng nhân dân sục sôi khí thế, sẵn sàng vùng lên khởi nghĩa .

 

2. Tình hình kinh tế – xã hội .

a. Kinh tế

* Chính sách của Pháp: 

  - Đầu tháng 9/1939, Toàn quyền Ca-tơ-ru ra lệnh tổng động viên nhằm cung cấp cho mẫu quốc tiềm lực tối đa của Đông Dương về quân sự, nhân lực, các sản phẩm và nguyên liệu”.

  - Pháp thi hành chính sách “Kinh tế chỉ huy” : tăng thuế cũ, đặt thêm thuế mới …, sa thải công nhân, viên chức, giảm tiền lương, tăng giờ làm… , kiểm soát gắt gao sản xuất, phân phối, ấn định giá cả.

* Chính sách của Nhật:

- Pháp phải cho Nhật sử dụng phương tiện giao thông, kiểm soát đường sắt, tàu biển. Nhật bắt Pháp trong 4 năm 6 tháng nộp khoản tiền 723.786.000 đồng .

- Cướp ruộng đất của nông dân, bắt nông dân nhổ lúa, ngô để trồng đay, thầu dầu phục vụ cho chiến tranh .

- Buộc Pháp xuất cảng các nguyên liệu chiến tranh sang Nhật với giá rẻ như : than, sắt, cao su, xi măng …

-  Công ty của Nhật đầu tư vào những ngành phục vụ cho quân sự  như  măng-gan, sắt, phốt phát, crôm .

b. Xã hội

- Chính sách bóc lột của Pháp – Nhật đẩy nhân dân ta tới chỗ cùng cực .Cuối 1944 đầu năm 1945 có tới 2 triệu đồng bào ta chết đói .

-  Các giai cấp, tầng lớp ở nước ta, trừ tay sai đế quốc, đại địa chủ và tư sản mại bản đều bị ảnh hưởng bởi chính sách bóc lột của Pháp- Nhật .

- Đảng phải kịp thời, đề ra đường lối đấu tranh phù hợp .

 

II. PHONG TRÀO GIẢI PHÓNG DÂN TỘC TỪ THÁNG 9/1939 ĐẾN THÁNG 3/1945 .

1. Hội nghị  Ban  Chấp  hành Trung Ương  Đảng Cộng sản Đông Dương  tháng 11-1939.

Tháng 11/1939, Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng họp tại Bà Điểm (Hóc Môn)  do Tổng Bí thư Nguyễn Văn Cừ chủ trì, xác định :.

   * Nhiệm vụ, mục tiêu trước mắt là đánh đổ đế quốc và tay sai,  giải phóng các dân tộc ở Đông Dương, làm cho Đông Dương hoàn toàn độc lập.

  * Chủ trương:

            + Tạm gác lại khẩu hiệu cách mạng ruộng đất,  tịch thu ruộng đất của thực dân đế quốc và địa chủ, phản bội quyền lợi dân tộc , chông tô cao, lãi nặng .

            + Thay khẩu hiệu “Thành lập chính quyền Xô Viết công nông binh” bằng khẩu hiệu “Chính phủ dân chủ cộng hòa”.

* Về phương pháp đấu tranh: Đảng chuyển từ đấu tranh đòi dân sinh, dân chủ sang đánh đổ chính quyền của đế quốc và tay sai; từ hoạt động hợp pháp ,nửa hợp pháp sang hoạt động bí mật và bất hợp pháp.

* Đưa ra chủ trương thành lập Mặt trận dân tộc thống nhất phản đế Đông Dương thay cho Mặt trận dân chủ Đông Dương.

 Ý nghĩa: Đánh dấu  bước chuyển hướng quan trọng, đặt nhiệm vụ giải phóng dân tộc  lên  hàng đầu , đưa nhân dân  ta bước vào thời kỳ  trực tiếp vận động cứu nước .

 Tham khảo :

                   MẶT TRẬN THỐNG NHẤT DÂN TỘC PHẢN ĐẾ ĐÔNG DƯƠNG: tổ chức "liên hiệp tất cả các dân tộc Đông Dương dưới nền thống trị của đế quốc Pháp, tất cả các giai cấp, các đảng phái, các phần tử phản đế muốn giải phóng cho dân tộc, để đấu tranh chống đế quốc Pháp, vua chúa bản xứ và tất cả bọn tay sai của đế quốc, đòi hoà bình cơm áo, thực hiện nền độc lập hoàn toàn cho các dân tộc Đông Dương với quyền dân tộc tự quyết"; được thành lập theo Nghị quyết của Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Đông Dương họp 6 - 8.11.1939 tại Hóc Môn, Bà Điểm (Gia Định) để thay thế Mặt trận Dân chủ Đông Dương. Từ 6.11 đến 9.11.1940, Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Đông Dương họp tại Đình Bảng, Từ Sơn (Bắc Ninh) ra nghị quyết, trong đó đề cập chương trình của Mặt trận là đánh đổ đế quốc Pháp - Nhật và những lực lượng ngoại xâm; đánh đổ bọn tay sai cho đế quốc, phản bội quyền lợi dân tộc, vv. Thành phần Mặt trận gồm: Đảng Cộng sản Đông Dương, các Công hội, Nông hội, Việt Nam Phản đế, Cứu quốc hội, các Hội Phản đế Cứu quốc, Hội Phụ nữ Giải phóng... của cả ba dân tộc Việt Nam, Cămpuchia, Lào.

2. Những cuộc đấu tranh mở đầu thời kỳ mới.

+Khởi nghĩa Bắc Sơn ( 27 / 9 /1940)

* Nguyên nhân :

-  22/9/1940, Nhật vượt biên giới Việt – Trung, đánh chiếm Lạng Sơn, ném bom Hải Phòng, đổ bộ lên Đồ Sơn .

- Ở Lạng Sơn, số lớn Pháp đầu hàng, số còn lại rút chạy về Thái Nguyên qua đường Bắc Sơn

* Diễn biến :

-  Ở Lạng Sơn,số lớn Pháp đầu hàng,số còn lại rút chạy về Thái Nguyên qua đường Bắc Sơn .

-  Đêm 27/9/1940 Đảng bộ địa phương lãnh đạo nhân dân Bắc Sơn chặn đánh Pháp, chiếm đồn Mỏ Nhài,  chính quyền địch ở Bắc Sơn tan rã, nhân dân làm chủ châu lị và các vùng lân cận, đội du kích Bắc Sơn thành lập.

-  Pháp và Nhật đã cấu kết với nhau ,Nhật cho Pháp trở lại Lạng Sơn; Pháp  khủng bố, đốt phá làng bản, bắn giết những người tham gia khởi nghĩa .

* Ý nghĩa:  mở đầu phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc, Đảng rút ra những bài học quý báu về khởi nghĩa vũ trang, thời cơ ...

 

khi_ngha_bc_sn_500
 
Lược đồ khởi nghĩa Bắc Sơn

 

du_kich_bac_son_01 

Đội du kích bắc Sơn

+ Khởi nghiã Nam Kỳ ( 23/11/1940)

* Nguyên nhân: Tháng 11/1940, Pháp bắt thanh niên Việt Nam và Cao Miên làm bia đỡ đạn tại biên giới Thái Lan , nhân dân Nam Kỳ và binh lính phản đối.

* Diễn biến:

-  Xứ ủy Nam Kỳ chuẩn bị phát động khởi nghĩa, cử đại biểu ra Bắc xin chỉ thị của Trung ương .

- 11-1940 Hội nghị Ban chấp hành Trung ương Đảng  tại Đình  Bảng - Từ Sơn- Bắc Ninh , xác định kẻ thù chính là đế quốc Pháp-Nhật ; duy trì đội du kích Bắc Sơn .lập căn cứ du kích và đình chỉ  cuộc khởi nhĩa Nam Kỳ vì thời cơ  chưa  chín muồi.

- Kế  hoạch bị lộ nhưng lệnh khởi nghĩa của Xứ ủy đã đến các địa phương, nên khởi nghĩa vẫn nổ ra đêm 22 rạng sáng 23/11/1940.

- Khởi nghĩa bùng nổ từ miền Đông đến miền Tây Nam Bộ : Biên Hòa, Gia Định, Chợ Lớn, Tân An, Bến Tre, Trà Vinh, Cần Thơ, Sóc Trăng,  Bạc Liêu, Rạch Giá, Mỹ Tho, Vĩnh Long. Chính quyền cách mạng thành lập ở nhiều nơi, lần đầu tiên xuất hiện lá cờ đỏ sao vàng.

-Pháp cho máy bay ném bom tàn sát nhân dân những vùng nổi dậy và bắt nhiều người. Nghĩa quân còn lại rút về Đồng Tháp và U Minh để củng cố lực lượng. Xử bắn nhiều Đảng viên như Nguyễn văn Cừ , Nguyễn thị Minh Khai .

* Ý nghĩa: Chứng tỏ tinh thần yêu nước của các tầng lớp nhân dân Nam Bộ, sẵn sàng đứng lên chiến đấu chống quân thù .

luoc_do_khoi_nghia_nam_ki_500 

Lược đồ khởi nghĩa Nam Kỳ

+Binh biến Đô Lương (13/01/1941)

* Nguyên nhân : Binh lính người Việt trong quân đội Pháp phản đối việc Pháp đưa lính người Việt sang Lào đánh nhau với quân Thái Lan .

* Diễn biến :

- Ngày13/1/1941 Đội Cung (Nguyễn Văn Cung) chỉ huy binh lính đồn Chợ Rạng (Nghệ An)   nổi dậy, đánh chiếm đồn Đô Lương rồi kéo về Vinh ,phối hợp với binh lính ở đây chiếm thành.

- Pháp kịp thời đối phó,chiều hôm sau, toàn bộ binh lính tham gia nổi dậy bị bắt.

- Pháp xử bắn Đội Cung cùng 10 đồng chí, nhiều người khác bị kết án khổ sai, đưa đi đày .

Như vậy, từ khởi nghĩa Bắc Sơn đến khởi nghĩa Nam Kỳ và binh biến Đô Lương, quần chúng yêu nước trước thời cơ chiến tranh, từ Bắc đến Nam dù trong hoàn cảnh và điều kiện nào, cũng có một nhận thức và hành động thiết thực là phải đứng lên chống bọn áp bức dân tộc. Những cuộc khởi nghĩa đầu tiên này tuy sớm bị đàn áp và thất bại, nhưng sức quật khởi của khối quân thù của toàn dân tộc thì không có gì có thể dập tắt được, nó sẽ được hướng vào chẩn bị cho cuộc tổng nổi dậy của toàn dân tộc dưới ngọn cờ chung của những người cộng sản.
Tháng 11/1939 Đảng Cộng Sản Đông Dương họp hội nghị Ban Chấp Hành Trung Ương lần thứ VI tại Bà Điểm ( Gia Định) để phân tích tình hình đề ra nhiệm vụ mới cho Cách mạng Việt Nam. Hội nghị đề ra chủ trương “nhiệm vụ cốt chính của cách mệnh là đánh đổ đế quốc. Đế quốc chiến tranh, khủng hoảng cùng với ách thống trị phát xít thuộc địa đã đưa ra vấn đề dân tộc thành một vấn đề khẩn cấp quan trọng”. “Đứng trên lập trường giải phóng dân tộc, lấy quyền lợi dân tộc làm tối cao, tất cả các vấn đề của cuộc cách mệnh, cả vấn đề điền địa cũng phải nhằm vào cái mục đích ấy mà giải quyết”.


Tháng 11/1940 tròn một năm sau khi đề ra nhiệm vụ mới ấy Đảng Cộng Sản Đông Dương lại họp hội nghị ban ch6p1 hành trung ương lần thứ VII tại Đình Bảng (Bắc Ninh), tiếp tục phân tích nhận định tình hình trước diễn biến mới của chiến tranh, chủ trương thành lập Mặt Trận Dân Tộc Thống Nhất Phản Đế “đặng tranh đấu tiến lên võ trang bạo động đánh đổ đế quốc Pháp - Nhật và các lưc lượng phản động ngoại xâm, diệt trừ phong kiến và các hành động phản bội quyền lợi dân tộc làm cho Đông Dương được hoàn toàn giải phóng”.


3. Nguyễn Ái Quốc về nước trực tiếp lãnh đạo cách mạng Việt Nam


Tháng 2/1941 Nguyễn Ái Quốc về nước trực tiếp cùng những người Cộng sản Đông Dương tổ chức phong trào, lãnh đạo đấu tranh. Tháng 5/1941, sau khi thí điểm xây dựng Mặt Trận Việt Minh ở Cao Bằng, Nguyễn Ái Quốc đã triệu tập Hội nghị Ban Chấp Hành Trung Ương lần thứ VIII tại Pắc-Pó (Cao Bằng), Với những dự đoán sáng suốt của lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc về diễn biến của chiến tranh đế quốc và triển vọng của phong trào dân tộc, Đảng Cộng Sản Đông Dương tại Hội nghị lịch sử này đã tiếp tục đề ra nhiều chủ trương và chính sách cụ thể có ý nghĩa hoàn chỉnh đường lối và phương pháp cách mạng giải phóng dân tộc trong giai đoạn mới.


Hội nghị nhận định “nếu cuộc chiến tranh đế quốc lần trước đẻ ra Liên Xô, một nước xã hội chủ nghĩa, thì cuộc đấu tranh lần này sẽ đẻ ra nhiều nước xã hội chủ nghĩa, sẽ do đó mà cách mạng nhiều nước thành công”., “cuộc đế quốc chiến tranh càng dữ dội, càng tiến mau thì phong trào cách mạng càng do đó mà bành trướng mau lẹ”. Vấn đề giải phóng dân tộc tại hội nghị này không những tiếp tục được đề cao lên hàng đầu và là nhiệm vụ cấp bách nhất, như các hội nghị lần trước đã khẳng định, mà còn được đặt đúng vị trí khuôn khổ quốc gia của nó, dân tộc phải được tự do độc lập và có quyền tự quyết định. Khởi nghĩa vũ trang là con đường tất yếu để thực hiện nhiệm vụ đó, như Hội nghị khẳng định “cuộc Cách mạng Đông Dương kết liễu bằng cuộc khởi nghĩa võ trang” theo cách thức là “với lực lượng sẵn có, ta có thể lãnh đạo một cuộc khởi nghĩa từng phần trong từng địa phương cũng có thể giành sự thắng lợi mà mở đường cho cuôc tổng khởi nghĩa to lớn”. Do đó chuẩn bị khởi nghĩa vũ trang là nhiệm vụ trung tâmcủa giai đoạn hiện thời, phải bắt tay vào việc xây dựng khối đoàn kết dân tộc và xây dựng “lực lượng toàn quốc đủ cức gây ra và củng cố cho một cuộc khởi nghĩa”; Chỉ đến khi những điều kiện chủ quan ấy được chuẩn bị đầy đủ thì mới có thể kết hợp được với “điều kiện khách quan thuận lợi cho cuộc khởi nghĩa Đông Dương như quân Trung Quốc đại thắng quân Nhật, cách mạng Pháp hay cách mạng Nhật nổi dậy, phe dân chủ đại thắng ở Thái - Bình - Dương, Liên Xô đại thắng cách mạng các thuộc địa Pháp, Nhật sôi nổi và nhất là quân Trung Quốc hay quân Anh - Mỹ tràn vào Đông Dương”.


Như vậy, chiến tranh thế giới thứ II bùng nổ, những người yêu nước và cách mạng ở Việt Nam đã nhận thức đó là thời cơ để đứng lên giải phóng dân tộc. Trong quá trình ấy Đảng Cộng Sản Đông Dương đã kịp thời lãnh đạo phong trào dân tộc, chuyển hướng chỉ đạo chiến lược và sách lược, đề ra đường lối và phương pháp cách mạng thích hợp nhất với yêu cầu nhiệm vụ lịch sử. Với việc đưa nhiệm vụ giải phóng dân tộc lên hàng đầu và hoàn chỉnh chuyển hướng chỉ đạo chiến lược, sách lược đấu tranh trong thời kỳ mới, từ giữa năm 1941, cả dân tộc đã bước vào thời kỳ chuẩn bị trực tiếp cho cuộc Cách Mạng Tháng Tám.


Ngay sau Hội nghị lần thứ VIII của Đảng, tổ chức “Việt Nam Độc Lập Đồng Minh Hội” (gọi tắt là Việt Minh), bao gồm các “Hội cứu quốc” đã được thành lập và nhanh chóng phát triển. Mặt trận không chỉ phù hợp với nguyện vọng cứu quốc của đông đảo các tầng lớp nhân dân mà còn đáp ứng được yêu cầu đề cao tinh thần yêu nước và đấu tranh cách mạng của mỗi dân tộc Đông Dương. Chương trình của Việt Minh nói rõ chủ trương “Liên hiệp hết thảy các tầng lớp nhân dân, không phân biệt tôn giáo, xu hướng, đảng phái chính trị nào, giai cấp nào, đoàn kết chiến đấu để đánh đuổi Pháp - Nhật, giành lấy độc lập xứ sở…, hết sức giúp đỡ Ai Lao độc lập đồng minh và Cao Miên độc lập đồng minh… để đánh được kẻ thù chung giành quyền độc lập cho nhà nước. Sau khi đánh đuổi đế quốc Pháp - Nhật sẽ thành lập một chính phủ nhân dân của Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa, lấy lá cờ đỏ ngôi sao vàng năm cánh làm lá cờ toàn quốc”.


4. Mặt Trận Việt Minh với quá trình chuẩn bị khởi nghĩa vũ trang


Đúng như dự đoán, tháng 6/1941 phát xít Đức tấn công Liên Xô, cuộc chiến tranh thế giới bước sang một thời kỳ mới, trận địa chống chủ nghĩa phát xít mở rộng toàn cầu. Tại Đông Dương, bọn Nhật - Pháp cấu kết với nhau vơ vét, làm cho mâu thuẫn giữa toàn thể dân tộc ta với phát xít Nhật - Pháp ngày càng sâu sắc. Mặt Trận Việt Minh chủ trương gấp rút chuẩn bị khởi nghĩa vũ trang với quyết tâm đem sức ta tự giải phóng cho ta.
Từ cuối năm 1941 đến đầu năm 1943, các Đội Cứu Quốc Quân và các Đội Tự Vệ Chiến Đấu, Đội Xung Phong Nam Tiến lần lượt ra đời và hoạt động nối liền 2 căn cứ địa Bắc Sơn - Phủ Nhai với Cao Bằng; phong trào du kích chiến tranh ở các khu căn cứ được phát động gây thêm thanh thế cho cách mạng, do đó Việt Minh nhanh chóng xây dựng cơ sở phát triển tổ quốc. Ở Bắc Bộ và Trung Bộ đến năm 1942 đã xuất hiện nhiều xã, tổng và châu “hoàn toàn”, nhất là trong tỉnh Cao Bằng. Tại đây Việt Minh đã được thành lập và tập hợp toàn bộ quần chúng nhân dân, các ban Việt Minh làm chức năng của chính quyền cách mạng…
Ở Nam Bộ từ sau khởi nghĩa Nam Kỳ, cách mạng gặp nhiều tổn thất nên phát triển khó khăn. Tuy thế cơ sở cách mạng còn lại vẫn duy trì hoạt động gây dựng phong trào nhất là trong giới lao động công nhân và nông dân, đến năm 1943 phong trào đấu tranh ở Nam Bộ đã dần dần hồi phục. Từ tháng 5/1942 - 6/1943 có 24 cuộc đấu tranh của công nhân.


Tháng 2/1943 tại Hội nghị Ban thường vụ trung ương ở Võng La (Đông Anh), Đảng Cộng Sản Đông Dương nhận thức: “Phong trào cách mạng Đông Dương có thể bỗng chốc tiến lên bằng những bước nhảy cao” do đó cần mở rộng Mặt Trận Việt Minh và xúc tiến chuẩn bị khởi nghĩa vũ trang cho toàn dân. Bảng “Đề cương văn hóa Việt Nam” được thông qua trong hội nghị Võng La (công bố tháng 2/1943) là hoạt động thiết thực đầu tiên để đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ mới vừa đề ra. “Đề cương văn hóa Việt Nam” cùng với các sách báo của Đảng và Mặt Trận Việt Minh lúc đó như “cờ giải phóng”, “cứu quốc”, tạp chí Cộng Sản đã trở thành vũ khí sắc bén trong cuộc đấu tranh chống văn hóa ngu dân và phản dân tộc của Pháp - Nhật, nó đã tập hợp được cho dân tộc một lực lượng đông đảo các trí thức văn nghệ sĩ đi vào con đường cứ quốc. Chẳng bao lâu Hội Văn Hóa Cứu Quốc ra đời phát triển nhanh ra các thành phố. Tiếp đó tháng 6/1944, được những người cộng sản giúp đỡ, một số tri thức yêu nước còn thành lập Đảng Dân Chủ Việt Nam.


Mặt Trận Việt Minh cũng được củng cố phát triển ở nhiều nơi khác trong và ngoài nước những năm 1943 - 1944. Các tỉnh miền núi và trung du Bắc Bộ, Việt Minh đã trở thành người tổ chức lãnh đạo các hoạt động đấu tranh cách mạng ở đại phương còn các tỉnh đồng bằng thì hầu hết các huyện đều có cơ sở Đảng và Việt Minh. Ở nhiều tỉnh ven biển Trung Bộ, cơ sở Đảng và Việt Minh được phát triển trong các giới lao động và các bộ phận tiểu tư sản trí thức đô thị. Ở Nam Bộ từ năm 1943 tổ chức Việt Minh được xây dựng ở Sài Gòn, Gia Định, Tây Ninh và các nơi khác. Những người Việt Nam yêu nước ở Xiêm, Trung Quốc cũng được tập hợp lại lập các ban Việt Minh ở hải ngoại. Trên cơ sở phong trào Việt Minh lan rộng, những cuộc đấu tranh yêu nước của các tầng lớp nhân dân dưới các hình thức bí mật và công khai được dần dần đẩy mạnh, nhất là với các hoạt động chuẩn bị khởi nghĩa vũ trang.


Tháng 5/1944 Tổng bộ Việt Minh ra chỉ thị “sửa soạn khởi nghĩa”, tháng 8/1944 Đảng Cộng Sản Đông Dương kêu gọi “sắm vũ khí đuổi thù chung”. Từ đó ở các vùng căn cứ và vùng có Việt Minh phát triển mạnh những hoạt động khởi nghĩa vũ trang được xúc tiến như phổ biến kinh nghiệm khởi nghĩa, học chiến thuật du kích, tổ chức và huấn luyện các đội tự vệ, các tiểu đội du kích, động viên quần chúng tự sắm sửa vũ khí và tìm kiếm vũ khí cho du kích…
Đặc biệt là ở các tỉnh Cao Bằng, Bắc Cạn, Lạng Sơn, Thái Nguyên, Tuyên Quang, Hà Giang, Phú Thọ, Bắc Ninh, Bắc Giang, Vĩnh Yên, Mặt Trận Việt Minh được xây dựng đều khắp và có hệ thống. Các lớp huấn luyện du kích được mở liên tục, không khí nổi dậy khởi nghĩa sôi sục trong quần chúng. Tháng 10/1944, Pháp mở cuộc càn lớn vào vùng Vũ Nhai (Thái Nguyên), quần chúng được Đảng bộ địa phương tổ chức và rút vào rừng đẩ chuẩn bị cho cuộc bạo động chống Pháp. Liên tỉnh ủy Đảng Cộng Sản Đông Dương Cao Bằng - Bắc Cạn - Lạng Sơn chủ trương phát động chiến tranh du kích trong phạm vi 3 tỉnh. Dấu hiệu của một thời kỳ đấu tranh mới đã xuất hiện cục bộ từ cuối năm 1944, cách mạng đang cần một bước chuyển thích hợp để có thể phát triển nhảy vọt.


Tháng 9/1944 đồng chí Nguyễn Ái Quốc (lúc này lấy tên là Hồ Chí Minh) về nước sau 2 năm đi công tác sang Trung Quốc. Trong thời gian đi công tác Người bị chính quyền Tưởng Giới Thạch bắt giam từ ngày 29/8/1942 đến đầu tháng 9/1943. Trải qua 30 nhà lao ở 13 huyện ở Trung Quốc, tuy có bị tiều tụy về thể xác nhưng ý chí và tâm hồn cách mạng của người không hề giảm sút. Người đã viết “Ngục Trung Nhật Ký” và ngay khi ra tù Người đã lao vào hoạt động không mệt mỏi để nắm bắt tình hình thời cuộc, theo dõi diễn biến cách mạng trong và ngoài nước kịp thời chỉ đạo phong trào dân tộc đang chuyển biến tích cực.


Cuối tháng 9/1943, Hồ Chí Minh đề nghị hoãn thi hành “Nghị quyết phát động chiến tranh du kích” các liên tỉnh ủy Cao - Bắc - Lạng. Tháng 10/1944, Hồ Chí Minh gửi thư cho đồng bào cả nước kêu gọi toàn quốc chuẩn bị Đại hội Đại biểu để “Trong thì lãnh đạo công việc cứu nước, kiến quốc, ngoài thì giao thiệp với các hữu bang” và người dự báo “cơ hội cho dân tộc ta giải phóng chỉ trong một năm hoặc năm rưỡi nữa”.


Tháng 12/1944, Hồ Chí Minh ra chỉ thị thành lập đội “Việt Nam Tuyên Truyền Giải Phóng Quân”. Ngày 22/10/1944 lễ thành lập được tổ chức tại một khu rừng giữa 2 tổng Hoàng Hoa Thám và Trần Hưng Đạo, Châu Nguyên Bình tỉnh Cao Bằng. Đội gồm 34 người (có 3 nữ) biên chế thành 3 tiểu đội với 34 khẩu súng đủ loại. Ngay sau đó Việt Nam Tuyên Truyền Giải Phóng Quân đã đánh thắng trận đầu với việc hạ đồn Phay Khắt (ngày 24/12/1944) và đồn Nà Ngần (ngày 25/12/1944). Một tuần sau Việt Nam Tuyên Truyền Giải Phóng Quân đã phát triển thành một đại đội.
Ở Nam Bộ các cơ sở Đảng sau khởi nghĩa Nam Kỳ bị tổn thất lớn; các bộ phận còn lại ra sức móc nối lập lại xứ ủy và liên lạc với trung ương. Nhiều đồng chí cốt cán của Đảng, trong đó có đồng chí Trần Văn Giàu bí thư xứ uỷ được tổ chức trốn khỏi nhà tù đế quốc, góp phần quan trọng vào việc gây dựng phục hồi lại hệ thống Đảng ở Nam Kỳ. Đến năm 1943 với sự ra đời của nhóm giải phóng và Xứ uỷ tiền phong, các Đảng bộ địa phương đã được thành lập lại. Mặc dù có 2 hệ thống xứ ủy chỉ đạo nhưng về cơ bản “xứ ủy” và Đảng bộ địa phương Nam Kỳ vẫn còn chung đường lối đấu tranh cách mạng giải phóng dân tộc, vẫn thống nhất về mục tiêu lãnh đạo phong trào quần chúng tiến tới một cuộc khởi nghĩa vũ trang giành chính quyền. Cuối năm 1944 đầu năm 1945, phong trào cách mạng ở Nam Bộ đã lấy lại khí thế phát triển nhanh của mình và bắt đấu bắt nhịp vào trào lưu chung của cả dân tộc đang chuẩn bị cho bước nhảy vọt lớn khi thời cơ đến.


5. Cao trào kháng Nhật cứu nước - tiền đề của Tổng khởi nghĩa


Chiến thắng dồn dập của Liên Xô và các lực lượng Đồng minh ở châu Âu tiêu diệt bọn phát xít Đức - Ý tạo điều kiện cho nhiều nước châu Âu được giải phóng. Tháng 8/1944 nước Pháp được giải phóng, chính phủ De Gaulle lên cầm quyền. Ở Đông Dương bọn Nhật - Pháp vừa lo cấu kết với nhau chống phá cách mạng, vừa lo đối phó hất cẳng nhau khi Đồng minh chuẩn bị đánh sang Viễn Đông.
Sự hòa hoãn Nhật - Pháp những năm 1940 - 1944, như đồng chí Trường Chinh đã viết trên báo Cờ Giải Phóng (1944), “có khác chi một cái nhọt bọc chứa chất bên trong biết bao vi trùng và máu mủ, chỉ chờ dịp chín nõn là vỡ tung ra”. Hai kẻ thù không thể chung một miếng mồi và để trừ hậu họa, đêm ngày 9/3/1945 Nhật đã tiến hành cuộc đảo chính lật đổ Pháp, độc quyền chiếm lấy Đông Dương. Quân Pháp từ hoang mang đến bỏ chạy chứ không dám cùng với Việt Minh chống Nhật. Pháp cam chịu làm tù binh của phát xít Nhật, hơn là làm Đồng minh với người thiết tha được độc lập dân tộc, mặc dầu đất nước họ vừa thoát khỏi ách thống trị của phát xít.
Chính sách của Nhật ở Đông Dương từ sau ngày 9/3/1945 là kết hợp việc lừa dối, bịp bợm với thủ đoạn bạo lực tàn ác đề cướp bóc về kinh tế, chia sẻ về chính trị, tiến công về quân sự. Chúng đề ra chính sách “dĩ chiến dưỡng chiến” mà thực chất là thực hiện cuộc đánh cướp đại quy mô để thực hiện chính sách Đại Đông Á của chúng. Nhật nắm lấy các công ty, xí nghiệp của Pháp, cho tăng các mức thuế, buộc ngân hàng Pháp cung cấp tiền cho chúng, không đưa hàng hóa của Nhật sang Đông Dương, dùng Đông Dương nuôi chiến tranh ở Đông Dương và vơ vét đem về Nhật. Năm 1944 và năm 1945 nông nghiệp liên tục bị thiên tai và mất mùa, nhưng Đông Dương vẫn phải xuất nộp sang Nhật 900.000 tấn gạo, ngoài số cung cấp cho Nhật - Pháp tại Đông Dương tiêu dùng và tích trữ. Đầu năm 1945 các kho của Pháp tích trữ 500.000 tấn thóc mặc cho giá thóc lúc đó đang ngày một tăng cao, nạn đói đang hoành hành. Bảo Đại chuyển sang hợp tác với Nhật, chính phủ Trần Trọng Kim do Nhật đỡ đầu tuyên bố “Việt Nam độc lập”. Đảng phái thân Nhật xuất hiện nhan nhản, riêng Bắc Kỳ đã có 30 tổ chức và bọn này lập ra cái gọi là “Đại Việt quốc gia liên minh” làm mặt trận thân Nhật chống lại Mặt Trận Việt Minh. Quân đội Nhật và tay sai liên tục hành quân đánh phá các căn cứ cách mạng, bắt bớ nhiều người dân vô tội. Nhật còn ban hành luật xử chém rất tàn khốc đối với những người yêu nước và cách mạng. Chính sách đàn áp của Nhật làm cho Cách mạng Đông Dương chịu nhiều tổn thất nhưng tội ác của chúng chỉ làm cho ngọn lửa căm thù trong quần chúng nhân dân thêm bốc cao, cuộc nổi dậy từ khối căm thù ấy nhất định không gì cản nổi.
Đảng Cộng Sản Đông Dương đã theo dõi sát mối quan hệ Nhật - Pháp và ngày 9/3/1945 khi có dấu hiệu đảo chính, Ban thường vụ trung ương đã họp mở rộng tại Đình Bản (Từ Sơn, Bắc Ninh). Cuộc họp vừa bắt đầu thì tiếng súng đảo chính nổ ran như lời minh hoạ cho những dự đoán chính xác của Đảng. Hội nghị nhận định những điều kiện cho cuộc khởi nghĩa ở Đông Dương đang đi đến chín muồi một cách nhanh chóng và một cao trào cách mạng nổi dậy. Đó là:
          1. “Chính trị khủng hoảng (quân thù không rảnh tay đối phó với cách mạng)”.
          2. “Nạn đói ghê gớm (quần chúng oán ghét quan cướp nước)”.
          3. “Chiến tranh đến giai đoạn quyết liệt (đồng minh sẽ đổ bộ vào Đông Dương đánh Nhật)”.
Trên cơ sở đó, Hội nghị thường vụ chủ trương thay đổi khoẩu hiệu và phương pháp cách mạng cho phù hợp với tình hình nhiệm vụ mới, phát động một cao trào kháng Nhật cứu nước mạnh mẽ làm tiền đề cho cuộc tổng khởi nghĩa. Hội nghị dự kiến thời cơ cho cách mạng bùng nổ nhưng nhấn mạnh việc không ỷ lại vào quân đồng minh … Ngày 12/3/1945 kết thúc hội nghị lịch sử này, bản chỉ thị “Nhật - Pháp bắn nhau và hành động của chúng ta” đã ra đời. Bản chỉ thị sẽ tiếp tục hướng dẫn các Đảng bộ địa phương, các lực lượng cách mạng và yêu nước một phương pháp phân tích tình hình, phán đoán thời cơ và kịp thời hành động.
Ngay sau đó, phong trào “Kháng Nhật cứu nước” đã bùng nổ tại các tỉnh Bắc Bộ đến Trung Bộ. Cuộc đảo chính tuy chưa làm cho kẻ thù chính của nhân dân Đông Dương lâm vào tình trạng hoang mang, dao động cực điểm, nhưng ở địa phương kẻ thù cách mạng đã không thể còn thống trị như trước được nữa, ở đó quần chúng nhân dân cũng muốn nhân cơ hội đảo chính để nổi dậy. Ở Việt Bắc, Việt Nam Tuyên Truyền Giải Phóng Quân và Cứu Quốc Quân đã cùng với nhân dân địa phương khởi nghĩa, xóa bỏ bộ máy chính quyền địch ở cơ sở, lập Ủy ban dân tộc giải phóng cao cấp, lập đội du kích, tịch thu ruộng đất của địa chủ chia cho tá điền.
Tại các nơi địch giam giữ cán bộ cách mạng như : Nghĩa Lộ, Sơn La, Buôn Mê Thuột, Quảng Ngãi, tin đảo chính nhanh chóng truyền đi và bén vào ngọn lửa căm thù của các chính trị phạm. Các chi bộ nhà tù lập tức cho anh em vượt ngục để kịp thời hành động. Chi bộ nhà tù BaTơ quyết định phát động khởi nghĩa ngay từ trong các trại tù và ngày 11/3/1945 các tù nhân BaTơ đã nổi dậy phá đề lao, chiếm đồn trại, lập đội du kích BaTơ cùng quần chúng nhân dân bên ngoài khởi nghĩa giành chính quyền.


Trong khi đó ở vùng Đồng bằng Bắc Bộ và Bắc Trung Bộ, với khẩu hiệu “Phá kho thóc cứu nạn đói”, hàng triệu đồng bào vùng lên phá tung các kho tích trữ thóc của Pháp và của Nhật. Hàng chục vạn tấn thóc được lấy ra chia cho nông dân để cứu đói, quần chúng được cứu đói càng hăng hái đấu tranh và tích cực chuẩn bị, sẵn sàng hành động khởi nghĩa.
Để giải quyết những vấn đề quân sự của cuộc tổng khởi nghĩa sắp tới, ngay 15/4/1945 Hội nghị quân sự cách mạng Bắc Kỳ được triệu tập tại Hiệp Hoà (Bắc Ninh). Hội nghị xác định nhiệm vụ quân sự lúc này là quan trọng nhất, cần thiết nhất, phải đẩy mạnh việc xây dựng và thống nhất lực lượng vũ trang cách mạng, phát triển chiến tranh du kích, mở rộng các căn cứ địa.
Đầu tháng 5/1945, Hồ Chí Minh từ Cao Bằng về Tuyên Quang, đặt đại bản doanh trại Tân Trào để chỉ đạo cách mạng cả nước. Ngày 15/5/1945, Cứu Quốc Quân hợp nhất với Việt Nam Tuyên Truyền Giải Phóng Quân thành Giải Phóng Quân Việt Nam. Ngay 4/6/1945, khu giải phóng Việt Bắc ra đời gần sáu tỉnh … Cao Bằng, Bắc Cạn, Lạng Sơn, Thái Nguyên, Tuyên Quang, Hà Giang. Giữa năm 1945 ở Bắc Bộ và Trung Bộ thanh thế của Việt Minh đã lên cao, không khí nổi dậy ngày một sôi nổi, cuộc tổng khởi nghĩa đến gần.


Cũng từ giữa năm 1945, ở Nam Bộ phong trào quần chúng bắt đầu bước đến cao trào cách mạng mới. Dựa vào những hoạt động công khai của lực lượng học sinh sinh viên ở các đô thị. Xứ ủy Nam Bộ (Tiền Phong) chủ trương phải nhanh chóng tập hợp lực lượng toàn dân, khẩn trương chuẩn bị nổi dậy khởi nghĩa giành chính quyền theo tinh thần chỉ thị của Đảng. Đầu tháng 6/1945 tổ chức Thanh niên Tiền phong ra đời ở Sài Gòn sau đó phát triển nhanh ra toàn Nam Bộ thành một phong trào quần chúng rộng rãi. Hoạt động của Thanh niên Tiền phong ra đời ở Sài Gòn sau đó phát triển nhanh ra toàn Nam Bộ thành một phong trào quần chúng rộng rãi. Hoạt động của Thanh niên Tiền phong hướng vào 3 công tác chính: huấn luyện chính trị, huấn luyện quân sự và tổ chức các hoạt động xã hội. Nhờ vậy đến tháng 8/1945 Thanh niên Tiền phong đã có hàng triệu đoàn viên ở khắp thành thị và nông thôn. Quần chúng công nông tham gia khá đông đảo vào Thanh niên Tiền phong, tạo cho Cách mạng Nam Bộ có “Sức mạnh Phù Đổng” để kịp thời hoà vào cơn bão táp cách mạng của cả nước sắp nổi lên.


6. Cách mạng tháng Tám 1945


Từ tháng 4/1945 trở đi Chiến tranh thế giới lần thứ hai bước vào giai đoạn kết thúc với việc quân Đồng minh tiêu diệt chủ nghĩa phát xít. Sau khi 450.000 quân tinh nhuệ bị tiêu diệt ngay tại sào huyệt Berlin, ngày 9/5/1945, phát xít buộc phải đầu hàng quân đồng minh không điều kiện. Tháng 7/1945, với hội nghị Poxdam, số phận của phát xít Nhật ở Viễn Đông cũng được định đoạt. Ngày 6 và 8/8/1945, Mỹ cho ném 2 quả bom nguyên tử huỷ diệt 2 thành phố lớn của Nhật là Hirosima và Nagasaki. Ngày 9/8/1945, Liên Xô tuyên chiến và tiêu diệt đạo quân Quan Đông 1.000.000 tên của Nhật buộc phát xít Nhật phải tuyên bố đầu hàng quân đồng minh không điều kiện ngày 12/8/1945.


Nghe tin Nhật đầu hàng, quần chúng nhân dân và các lực lược cách mạng Đông Dương vô cùng phấn khởi, ngọn lửa quật khởi trong lòng dân tộc bỗng bùng lên khắp nơi. Những cuộc mít tinh, biểu tình, biểu dương lực lượng do Việt Minh tổ chức có hàng vạn người tham gia. Các tầng lớp trung gian cũng ngã về phía cách mạng. Binh sĩ và cảnh sát cũng tỏ thái độ ủng hộ Việt Minh. Quân đội Nhật ở Đông Dương và chính quyền tay sai của chúng hoang mang rệu rã. Mặc dù chúng cố tình tìm cách cứu nguy bằng những hoạt động “Trao trả độc lập”, “Mời Việt Minh tham gia chính phủ”, nhưng cuối cùng vẫn hoàn toàn bất lực trước sức mạnh quật khởi của quần chúng đã nổi lên rồi.
Tình thế cách mạng trực tiếp đã xuất hiện để cả dân tộc vùng dậy không chờ đợi quân Đồng minh, chỉ cần sự thống nhất ý chí và kiên quyết hành động của toàn dân đem sức ta mà giải phóng cho ta. Cơ hội ngàn năm có một đã đến, phải nhanh chóng giành lấy chính quyền về tay nhân dân, trước khi quân đội các nước Đồng minh kéo vào Đông Dương.


Ngày 13/8/1945 Đảng Cộng Sản Đông Dương họp Hội nghị toàn quốc tại Tân Trào (Tuyên Quang) quyết định phát động và lãnh đạo toàn dân tổng khởi nghĩa giành chính quyền. Ủy ban khởi nghĩa toàn quốc được thành lập do Trường Chinh phụ trách, đêm 13/8/1945 Ủy ban này ra “Quân lệnh số 1” hạ lệnh tổng khởi nghĩa. Ngày 16 và 17/8/1945 Đại hội Quốc dân do Tổng bộ Việt Minh chuẩn bị từ trước cũng được triệu tập ở Tân Trào. Sau khi tán thành chủ trương tổng khời nghĩa của Đảng, Quốc dân Đại hội thông qua Lệnh khởi nghĩa của Tổng bộ Việt Minh, thông qua “10 chính sách lớn của Việt Minh”, Quốc Dân Đại Hội cử ra Ủy ban Dân tộc giải phóng do cụ Hồ Chí Minh là Chủ tịch và giao cho Ủy ban này làm nhiệm vụ một chính phủ lâm thời sau khi giành được chính quyền. Quốc Dân Đại Hội còn quyết định quốc kỳ là lá cờ đỏ sao vàng năm cánh, quốc thiều là bài hát Tiến Quân Ca. Toàn dân tộc đã có cùng một ý chí quyết tâm “Dù hi sinh tới đâu, dù phải đốt cháy cả dãy Trường Sơn cũng phải kiên quyết giành cho được độc lập”.


Ngày 14/8/1945, các đồn Nhật còn lại ở Khu Giải phóng Việt Bắc bị bức hạ, các tỉnh Việt Bắc giải phóng hoàn toàn. Ngày 16/8/1945 giải phóng Thái Nguyên. Ngày 19/8/1945 Việt Minh đã biến cuộc mít - tinh của bọn tay sai thân Nhật thành cuộc biểu dương lực lượng của các tầng lớp nhân dân, sau đó đoàn người biểu tình tỏa đi chiếm các công sở: Phủ Khâm sai, Sở Mật thám, Sở Bưu điện, trại Bảo an binh… 


 
Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết

  Ý kiến bạn đọc

  Ẩn/Hiện ý kiến

Mã chống spam   

Những tin mới hơn

 

Những tin cũ hơn

Thời điểm thi THPT QG

Bạn muốn tổ chức thi thử vào THPT QG khi nào?

Top