Thiếu tướng Phùng Chí Kiên

 - Người đăng bài viết: nguyễn thị linh  - Chuyên mục :  Đã xem: 20 

Dạy tốt giới thiệu tới bạn đọc bài viết về Thiếu tướng Phùng Chí Kiên

 

Thiếu tướng  Phùng Chí Kiên

Tướng Phùng Chí Kiên (1901-22/8/1941), liệt sĩ, chỉ huy Chiến khu Bắc Sơn-Võ Nhai và Trung đội cứu quốc quân 1 (1941). Ông được coi là nhà lãnh đạo quân sự đầu tiên của Đảng Cộng sản Việt Nam.

Tướng Phùng Chí Kiên cũng từng giữ chứ vụ Ủy viên Ban chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Đông Dương (nay là Đảng Cộng sản Việt Nam)

Ông được truy phong quân hàm cấp tướng (Thiếu tướng) năm 2003.

Tướng Phùng Chí Kiên (tên khai sinh là Nguyễn Vĩ, ông còn có tên khác là Mạch Văn Liễu) sinh tại làng Mỹ Quan, tổng Vạn Phần (nay là xã Diễn Yên), huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An.

Tuy nhà nghèo, nhưng ông vẫn được cha mẹ cho đi học sớm. Lớn lên, là một thanh niên có học, ông sớm giác ngộ cách mạng và tích cực tham gia nhóm đọc sách báo tiến bộ ở quê nhà. Nhà ông là một cơ sở của Việt Nam thanh niên cách mạng đồng chí hội.

Năm 1925, ông ra làm thuê cho một thương nhân người Hoa ở ga Yên Lý, thuộc huyện Diễn Châu, nằm trên tuyến đường sắt Hà Nội-Sài Gòn. Thời gian này, tổng bộ Việt Nam thanh niên cách mạng đồng chí hội ở Quảng Châu (Trung Quốc) đã cử cán bộ về Nghệ Tĩnh hoạt động. Nhiều thanh niên, học sinh ở đây được giác ngộ và đưa sang Quảng Châu học tập. Là một thanh niên có học, nhạy bén với thời cuộc, tháng 10/1926, ông cùng một số hội viên được giới thiệu sang Quảng Châu tham dự khóa huấn luyện đầu tiên của nhà cách mạng Nguyễn Ái Quốc rồi sau đó được vào học tại trường võ bị Hoàng Phố của chính phủ Tôn Trung Sơn.

Năm sau, Tưởng Giới Thạch phản bội, nhà trường bị đóng cửa, ông cùng với cán bộ cách mạng Việt Nam đứng về phía Đảng Cộng sản Trung Quốc chống lại hành động phản cách mạng của bọn quân phiệt. Phùng Chí Kiên gia nhập quân cách mạng và tham gia khởi nghĩa Quảng Châu (12/12/1927) do Đảng Cộng sản Trung Quốc lãnh đạo. Cuộc khởi nghĩa thất bại, quân cách mạng rút về xây dựng khu Xô Viết ở hai huyện Hải Phong và Lục Phong. Với cương vị là đại đội trưởng quân cách mạng, ông đã cùng cán bộ Đảng cộng sản Trung Quốc chịu đựng gian khổ, kiên trì bảo vệ cách mạng.

Tháng 2 năm 1931, được sự giới thiệu của Nguyễn Ái Quốc, ông sang học tài trường đại học Phương Đông của Quốc tế cộng sản. Đến Mãn Châu, ông bị phát-xít Nhật bắt giam gần một năm. Ra tù, ông đổi tên là Can rồi tiếp tục lên đường sang Liên Xô học. Tại đây ông học tập chủ nghĩa Mác Lênin và nghiên cứu kinh nghiệm đấu tranh bảo vệ và xây dựng đất nước của nhân dân Liên Xô để sau này áp dụng vào Việt Nam.

Đầu năm 1934, ông về Hương Cảng (Trung Quốc) tham gia Ban lãnh đạo ở nước ngoài của Đảng Cộng sản Đông Dương do nhà cách mạng Lê Hồng Phong đứng đầu. Đến đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ nhất của Đảng họp ở Ma Cao (3/1935), ông được bầu vào ban chấp hành Trung ương Đảng, được cử làm Ủy viên thường vụ Đảng.

Tháng 8/1936, ông được cử về Sài Gòn cùng ông Hà Huy Tập trực tiếp chỉ đạo phong trào cách mạng trong nước theo tinh thần nghị quyết lần thứ 7 của Quốc tế cộng sản và Nghị quyết hội nghị Ban chấp hành Trung ương Đảng ngày 16/7/1936. Một năm sau, do yêu cầu mới, ông Lê Hồng Phong về Sài Gòn hoạt động còn ông lại sang Trung Quốc chỉ đạo công tác Đảng ở nước ngoài với tấm thẻ căn cước Phùng Ngươn Vĩnh.

Đầu năm 1940, lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc đến Côn Minh, ông được cử đi báo cáo với lãnh tụ về tình hình hoạt động của Đảng ở nước ngoài. Trong thời gian này, ông nhiều lần đi cùng lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc đi công tác ở các nơi nhu Mông Tự, Nghi Lương, Khai Viễn, Chi Thiện…thuộc tỉnh Vân Nam.

Tháng 6/1940, Pháp đầu hàng Đức, Nhật nhảy vào Đông Dương. Thực hiện chỉ thị của lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc, ông họp Banh lãnh đạo của Đảng ở nước ngoài bàn việc vận động thành lập Hội Việt Nam độc lập đồng minh, đồng thời khẩn trương chuẩn bị cho lãnh tụ về nước. Ông cùng với lãnh tụ chuyển tới Tĩnh Tây-một thị trấn thuộc tỉnh Quảng Tây giáp biên giới Việt Trung.

Nhận được tin lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc về đến Tĩnh Tây, Trung ương Đảng ở trong nước cử ông Hoàng Văn Thụ sang đón. Sau khi thống nhất kế hoạch với ông Hoàng Văn Thụ, ông đã tập hợp bốn mươi thanh niên để lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc huấn luyện thành những cán bộ cốt cán, đưa về Cao Bằng xây dựng thí điểm các đoàn thể Việt Minh, lập căn cứ cách mạng. Dựa theo tài liệu huấn luyện của lãnh tụ, ông cùng với các ông Phạm Văn Đồng, Võ Nguyên Giáp biên soạn thành bài giảng nhằm làm tài liệu huấn luyện cho các bộ khi về nước. Những tài liệu này sau được in thành sách với nhan đề ‘’Con đường giải phóng’’.

Ngày 28/1/1941, ông theo lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc khi đó đã là Hồ Chí Minh về Pác Bó, tỉnh Cao Bằng. Ở đây, ông hoạt động cạnh Hồ Chí Minh và đóng góp phần quan trọng vào việc xây dựng, bảo vệ khu căn cứ.Ông đã tích cực tham gia vào việc tổ chức các lớp huấn luyện, đào tạo cán bộ Việt Minh cho các tỉnh Cao Bằng, Bắc Kạn, Lạng Sơn…và các tỉnh miền xuôi. Đến hội nghị Trung ương Đảng lần thứ 8 (5/1941), ông tiếp tục là Ủy viên Ban chấp hành Trung ương Đảng, được cử phụ trách quân sự, trực tiếp chỉ đạo khu căn cứ Bắc Sơn-Võ Nhai và trung đội Việt Nam cứu quốc quân.

Cuối tháng 6 năm 1941, quân Pháp mở cuộc càn quét lớn vào khu căn cứ cách mạng nhằm bắt các lãnh đạo của Đảng, tiêu diện cơ quan đầu não của Việt Minh và lực lượng vu trang cách mạng mới hình thành. Pháp huy động tới 4000 quân gồm đủ sắc lính tổ chức thành ba mũi tấn công vào khu căn cứ. Cánh quân từ Lạng Sơn kéo xuống càn quét các xã Hưng Vũ, Tân Lập, Vũ Lăng thuộc Bắc Sơn. Cánh quân thứ hai từ Thái Nguyên qua Đình Cả càn vào xã Trưưong Xá, Phú Thượng, La Hiên, Lũng Mười thuộc Võ Nhai. Cánh quân thứ ba từ Bắc Giang lên khép vòng vây ở huyện Hữu Lũng và Yên Thế. Quân Pháp bịt chặt đường ra lối vào, đi đến đâu đốt sạch làng bản, giết sạch gia súc và phá vườn cây ăn quả. Chúng triệt hạ các bản lẻ và thi hành chính sách tát nước bắt cá dồn dân tập trung vào các trại Đình Cả…

Không khí khủng bố căng thẳng đến nghẹt thở, hàng trăm gia đình chạy vào rừng sâu, sống trong hang động vô cùng thiếu thốn. Các cơ sở bí mật của Trung ương và Cứu quốc quân bị uy hiếp nghiêm trọng. Trong cuộc họp khẩn cấp tại Khuổi Nọi (xã Vũ Lễ), ban chỉ huy Cứu quốc quân quyết định cử một tổ bảo vệ và dẫn các lãnh đạo Trung ương qua Tràng Xá về xuôi an toàn. Còn toàn đội phối hợp với tự vệ chiến đấu hoạt động phân tán, bám dân, duy trì và bảo vệ cơ sở cách mạng. Ông Hoàng Quốc Việt, Ủy viên thường vụ Trung ương ở lại căn cứ đảng bộ Võ Nhai tổ chức lực lượng đối phó với quân Pháp. Phùng Chí Kiên chỉ huy đội Cứu quốc quân Bắc Sơn chiến đấu anh dũng, phá một số trận càn lớn của Pháp, góp phần giữ vững tinh thần cách mạng của nhân dân trong vùng, tiêu biểu là trận chống càn ở Gia Huần (Vu Lễ). Cứu quốc quân tuy cố găng nhưng phải di chuyển luôn, tiếp tế khó khăn, sức lực giảm dần. Ban lãnh đạo căn cứ Bắc Sơn Võ Nhai quyết định để lại một tiểu đội chặn quân Pháp, còn hai tiểu đội phá vòng vây của Pháp rút lên Cao Bằng để bảo toàn lực lượng.

Ngày 19/8/1941, cánh quân của ông và ông Lương Văn Tri qua châu Na Rỳ, Bắc Kạn thì bị phục kích nhưng đơn vị thoát được. Ngày 21/8, đơn vị lại bị phục kích tại xã Bằng Đức. Châu phủ huy động lính dõng khép kín vòng vây. Ông Lương Văn Nho trúng đạn rồi hy sinh, mặc dù bị thương nặng ông vẫn giữ chặt khẩu súng, bắn chặn để cho đồng đội thoát khỏi vòng vây. Bắn hết đạn ông bị bắt.

Châu phủ gán cho ông là tướng cướp và để cho quân lính mặc sức hành hung. Ông bình tĩnh giải thích :

- Chúng tôi là người yêu nước đi đánh Pháp đuổi Nhật để giải phóng đồng bào. Chúng ta là người Việt Nam, cần đoàn kết chống kẻ thù chung.

Lời giải thích của ông làm thức tính một số lính dõng. Ngay lập tức Châu phủ ra lệnh chặt đầu ông rồi đem cắm ở đầu cầu Ngân Sơn để uy hiếp tinh thần cán bộ, nhân dân địa phương.

Tướng Phùng Chí Kiên không những là nhà lãnh đạo quân sự đầu tiên của Đảng mà còn là người có công xây dựng, phát triển nền quân sự cách mạng Việt Nam cũng như đào tạo đội ngũ cán bộ quân sự lớp đầu tiên của Cách mạng Việt Nam. Là một nhà chính trị đồng thời là nhà quân sự được đào tạo bài bản tại Trung Quốc và Liên Xô, ông được phát hiện và dìu dắt bởi Bác Hồ và là học trò thế hệ đầu tiên của Người. Để đánh giá tài năng và công lao của ông, người ta vẫn thường nói rằng nếu ông còn sống thì Việt Nam sẽ có hai Võ Nguyên Giáp.


 
Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết

  Ý kiến bạn đọc

  Ẩn/Hiện ý kiến

Mã chống spam   

Những tin mới hơn

 

Những tin cũ hơn

Thời điểm thi THPT QG

Bạn muốn tổ chức thi thử vào THPT QG khi nào?

Top