TÀI NGUYÊN THIÊN NHIÊN

 - Người đăng bài viết: nguyễn thị linh  - Chuyên mục :  Đã xem: 50 

Trung tâm Dạy tốt giới thiệu tới bạn đọc thuật ngữ tài nguyên thiên nhiên. Mời bạn đọc tham khảo.

 

TÀI NGUYÊN THIÊN NHIÊN

Tài nguyên thiên nhiên (TNTN) có trong các thành phần môi trường, là nguồn lực của tự nhiên gồm: Đất đai, không khí, nước, năng lượng, và những khoáng sản trong lòng đất… tồn tại dưới dạng tự nhiên, không phụ thuộc vào ý chí của con người. Tài nguyên là thành phần không thể thiếu, được khai thác, sử dụng phục vụ cuộc sống và sự phát triển của xã hội loài người. Vì vậy, với mỗi quốc gia, dân tộc, tài nguyên là nguồn tài sản, nguồn lực, nguồn vốn tự nhiên đặc biệt quan trọng để xây dựng và phát triển đất nước.

Các nguồn TNTN có sự phân bố không đồng đều giữa các vùng trên trái đất. Ví dụ: Nga, Mỹ, Trung Đông có nhiều mỏ dầu; Amazon là những khu rừng nguyên sinh.
Tài nguyên thiên nhiên có vai trò quan trọng để phát triển kinh tế, nó không chỉ cung cấp nguyên liệu và không gian cho sản xuất xã hội mà còn phục vụ cho nhu cầu sống trực tiếp của con người.

VAI TRÒ CỦA TNTN ĐỐI VỚI SỰ PHÁT TRIỂN KINH TẾ

Giữa tài nguyên và kinh tế có mối quan hệ chặt chẽ qua lại với nhau, đó là mối quan hệ tương tác, thường xuyên và lâu dài.

Tài nguyên thiên nhiên là một yếu tố nguồn lực quan trọng
Tài nguyên thiên nhiên là một trong những yếu tố nguồn lực đầu vào của quá trình sản xuất. Xét trên phạm vi toàn thế giới, nếu không có tài nguyên, đất đai thì sẽ không có sản xuất và cũng không có sự tồn tại của con người. Tuy nhiên, đối với tăng trưởng và phát triển kinh tế, tài nguyên thiên nhiên chỉ là điều kiện cần nhưng chưa đủ. Trên thực tế, nếu công nghệ là cố định thì lưu lượng của TNTN sẽ là mức hạn chế tuyệt đối về sản xuất vật chất trong ngành công nghiệp sử dụng khoáng quặng làm nguyên liệu đầu vào như nhôm, thép…TNTN chỉ trở thành sức mạnh kinh tế khi con người biết khai thác và sử dụng một cách có hiệu quả. Thực tế đã cho thấy nhiều quốc gia mặc dù có trữ lượng tài nguyên phong phú, đa dạng, điều kiện thuận lợi, song vẫn là nước nghèo và kém phát triển, ví dụ như Cô oét, Arập-Sê út, Vê nê zuê la, Chi lê. Ngược lại nhiều quốc gia có ít tài nguyên khoáng sản nhưng lại trở thành những nước công nghiệp phát triển như Nhậ Bản, Anh, Pháp, Italia…

Có thể nói, TNTN là yếu tố thúc đẩy sản xuất phát triển, các nước đang phát triển thường quan tâm đến việc xuất khẩu sản phẩm thô, đó là những sản phẩm được khai thác trực tiếp từ nguồn TNTN của đất nước, chưa qua chế biến hoặc ở dạng sơ chế. Nguồn TNTN cũng là cơ sở để phát triển các ngành sản xuất nông nghiệp, công nghiệp, công nghiệp chế biến, các ngành công nghiệp nặng, công nghiệp sản xuất vật liệu xây dựng thủy tinh, sành sứ…

Tài nguyên thiên nhiên là cơ sở tạo tích lũy vốn và phát triển ổn định
Đối với hầu hết nước, việc tích lũy vốn đòi hỏi một quá trình lâu dài, gian khổ liên quan chặt chẽ với tiêu dùng trong nước và thu hút vốn đầu tư từ nước ngoài. Tuy nhiên, có nhiều quốc gia, nhờ những ưu đãi của tự nhiên có nguồn tài nguyên lớn, đa dạng nên có thể rút nhắn quá trình tích lũy vốn bằng cách khai thác các sản phẩm thô để bán hoặc để đa dạng hóa nền kinh tế tạo nguồn tích lũy vốn ban đầu cho sự nghiệp công nghiệp hóa đất nước.

Như trên chúng ta đã thấy, nguồn TNTN thường là cơ sở để phát triển một số ngành công nghiệp khai thác, công nghiệp chế biến và cung cấp nguyên liệu cho nhiều ngành kinh tế khác, góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế trong nước. Sự giàu có về tài nguyên, đặc biệt về năng lượng giúp cho một quốc gia ít bị lệ thuộc hơn vào các quốc gia khác và có thể tăng trưởng một cách ổn định, độc lập khi thị trường tài nguyên thế giới bị rời vào trạng thái bất ổn.

Tài nguyên thiên nhiên là yếu tố thúc đẩy sản xuất phát triển
Tài nguyên thiên nhiên là cơ sở để phát triển nông nghiệp và công nghiêp, góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế và cơ cấu lao động. Điều này đặc biệt quan trọng đối với các nước đang phát triển ở thời kỳ đầu công nghiệp hóa như Việt Nam. Tuy vậy, cần đề phòng tình trạng khai thác qua mức TNTN để xuất khẩu nguyên liệu thô.

ĐÓNG GÓP CỦA TÀI NGUYÊN THIÊN NHIÊN TRONG TĂNG TRƯỞNG VÀ PHÁT TRIỂN KINH TẾ CỦA VIỆT NAM

Việt Nam có nguồn tài nguyên phong phú bao gồm: tài nguyên đất, tài nguyên nước, tài nguyên biển, tài nguyên rừng, tài nguyên sinh vật, tài nguyên khoáng sản, tài nguyên du lịch…Tài nguyên thiên nhiên ở nước ta được quan tâm trước hết là đất đai, sau đó là rừng tự nhiên và gần đây nhất là khoáng sản (bao gồm cả dầu khí). Mỗi loại tài nguyên lại có một cách chuyển lợi ích khác nhau.

Tài nguyên đất: Việt Nam có trên 39 triệu ha đất tự nhiên, diện tích đất đã sử dụng vào các mục đích kinh tế - xã hội là 18,881 triệu ha, chiếm 57,04 % quỹ đất tự nhiên, trong đó đất nông nghiệp chiếm 22,20% diện tích đất tự nhiên và 38, 92% diện tích đất đang sử dụng. Hiện còn 14,217 triệu ha đất chưa sử dụng, chiếm 43,96% quỹ đất tự nhiên.

 

Phân loại Tài nguyên đất (số liệu năm 2011)

Tài nguyên đất màu mỡ đã đưa Việt Nam thành một trong 2 nước xuất khẩu gạo lớn nhất thế giới, đất feralit lớn và phân bố tập trung là điều kiện cho cây công nghiệp phát triển đưa Việt Nam giữ vị trí tứ nhất thế giới về sản lượng hồ tiêu xuất khẩu.

Tài nguyên rừng: Nước ta có tới ¾ diện tích đồi núi và rừng che phủ hơn 30% diện tích. Rừng Việt Nam là kho tài nguyên quý báu, là bộ phận quan trọng của môi trường sinh tháu, rừng làm cho không khí trong lành, điều hòa khí hậu.

 

Khu rừng nguyên sinh Nam Cát Tiên

Tài nguyên Khoáng sản: Nước ta nằm giữa hai vành đai tạo khoáng lớn của thế giới là Thái Bình Dương và Địa Trung Hải. Công tác thăm dò địa chất trong 40 năm qua đã phát hiện và đánh giá được trữ lượng của 5000 mỏ và điểm quặng, thuộc 60 loại khoáng sản. Khoáng sản chiếm đến 40 % tỉ trọng trọng tổng giá trị tài nguyên thiên nhiên. Các loại khoáng sản có quy mô lớn như: Than, boxit, thiếc, sắt, đồng, crôm, vàng, đá quý…và đặc biệt là dầu mỏ. 

 

                          Mỏ than Quảng Ninh

                                         

Nhà máy lọc dầu Dung Quất – Quảng Ngãi

Tài nguyên khoáng sản giữ một vai trò hết sức quan trọng đối với sự phát triển của công nghiệp, quy định sự phát triển của các ngành, dựa trên thế mạnh khoáng sản mà một số ngành công nghiệp của Việt Nam đã phát triển khá mạnh như dầu khí, hóa chất luyện kim, cơ khí, sản xuất vật liệu xây dựng…Các loại khoáng sản được khai thác chủ yếu vẫn là dầu mỏ, khí đốt và than, chiếm tỉ trọng 90% sản lượng ngành khai thác mỏ và khai thác đá. Những nguồn tài nguyên chưa khai thác là tài sản dự trữ, mang lại lợi thế về dài hạn cho đất nước và thế hệ tương lai. Khoáng sản là nguồn tư liệu sản xuất quan trọng trong công nghiệp, gián tiếp cho phát triển dịch vụ, đóng góp khá lớn vào nền kinh tế cũng như là động lực phát triển kinh tế.

Hiện trạng tài nguyên thiên nhiên trên thế giới nói chung và ở Việt Nam nói riêng đang diễn ra theo chiều hướng tiêu cực. Nguồn tài nguyên thiên nhiên của chúng ta hiện nay đang bị thu hẹp cả về số lượng và chất lượng.

Theo nhận xét của Ngân hàng Thế giới, Việt Nam có mô hình tăng trưởng dựa chủ yếu vào vốn đầu tư, tài nguyên thiên nhiên được sử dụng ở mức trung bình và nguồn nhân lực được sử dụng kém nhất.

Nguyên nhân chính dẫn tới thực trạng hiện này đó chính là do hoạt động khai thác một các bừa bãi, cùng với việc sử dụng tài nguyên lãng phí, và do công tác quản lý yếu kém của các cấp chính quyền địa phương.

Cụ thể như là tài nguyên rừng đang bị thu hẹp theo từng ngày, diện tích rừng tự nhiên che phủ giảm dần do khai thác trái phép, đất rừng bị chuyển qua đất nông công nghiệp, các loài sinh vật quý hiếm thì đứng trước nguy cơ tuyệt chủng rất cao (Theo thống kê thì ở Việt Nam có khoảng 100 loài thực vật và gần 100 loài động vật đang đứng trước nguy cơ tuyệt chủng).

Tình trạng ô nhiễm nguồn nước là vấn đề nghiêm trọng nhất đối với tài nguyên nước của chúng ta và theo dự báo đến năm 2025, 2/3 người trên thế giới có thể sẽ phải sống trong những vùng thiếu nước trầm trọng.Tại hội thảo góp ý chiến lược quốc gia về tài nguyên nước đến năm 2020, tổ chức ngày 1/12 tại Hà Nội, các nhà chuyên môn nhận định tài nguyên nước của Việt Nam ẩn chứa nhiều yếu tố không bền vững, chất lượng vẫn tốt nhưng đã có dấu hiệu suy thoái và ô nhiễm. 

Tài nguyên khoáng sản đang dần cạn kiệt sau việc khai thác quá mức và sử dụng lãng phí. Tài nguyên đất thì cũng đang gặp rất nhiều khó khăn như đất nông nghiệp đang bị chuyển dần qua đất phục vụ cho công nghiệp và dịch vụ, đất bị nhiễm mặn, bị sa mạc hóa ngày một tăng.

Tài nguyên thiên nhiên là nguồn vốn, đầu vào của nền kinh tế, là tài sản quốc gia có hạn, phải được khai thác, sử dụng tiết kiệm, hiệu quả và bền vững; coi việc khai thác, sử dụng hợp lý, hiệu quả tài nguyên là một trong những thước đo đánh giá chất lượng tăng trưởng kinh tế... Vấn đề sở hữu, quyền khai thác, sử dụng tài nguyên cần được nhận thức một cách sâu sắc, đúng đắn, phù hợp với thể chế kinh tế thị trường, qua đó hình thành cơ chế tiếp cận, trách nhiệm quản lý, chế độ khai thác phù hợp nhằm phát huy tốt nhất nguồn lực tài nguyên cho phát triển kinh tế - xã hội, đồng thời chú trọng việc bảo vệ các nguồn tài nguyên.

xem thêm: vùng kinh tế trọng điểm, việt nam quốc dân đảng


 
Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết

  Ý kiến bạn đọc

  Ẩn/Hiện ý kiến

Mã chống spam   

Những tin mới hơn

 

Những tin cũ hơn

Thời điểm thi THPT QG

Bạn muốn tổ chức thi thử vào THPT QG khi nào?

Top