Phong trào dân tộc dân chủ 1932- 1935

 - Người đăng bài viết: nguyễn thị linh  - Chuyên mục :  Đã xem: 543 

Dạy tốt giới thiệu tới bạn đọc bài viết Phong trào dân tộc dân chủ 1932- 1935

 

                                 Phong trào dân tộc dân chủ 1932- 1935
4. Thoái trào cách mạng và cuộc đấu tranh phục hồi phong trào 1932- 1935

a. Chính sách mới của thực dân Pháp (1931- 1935)

Từ cuối năm 1931, phong trào cách mạng tạm thời lắng xuống. Tuy vậy, chính qyền thực dân Pháp ở Đông Dương vẫn rất lo sợ những người cộng sản. Toàn quyền Patxkiê (Pasquyer) tuyên bố: Cuộc chiến đấu chống cộng sản là một chiến đấu quyết liệt nhất, cho đến khi nào cộng sản bị hoàn toàn tiêu diệt mới thôi. Trong báo cáo của Mácti (Louis Marti) trùm mật thám Pháp, cũng thừa nhận những khó khăn của chúng khi đương đầu với những người cộng sản.

Hi vọng dập tắt hẳn phong trào cách mạng Việt Nam, thực dân Pháp tăng cường chính sách khủng bố . Hàng vạn chiến sĩ cộng sản và quần chúng cách mạng trong phong trào cách mạng 1930 – 1931 đã bị bắt. Trần Phú bị bắt ngày 19 – 4 – 1931 tại Sài Gòn .

Thực dân Pháp đã tăng cường khủng bố nhằm dập tắt phong trào cách mạng Việt Nam. Hàng vạn chiến sĩ cách mạng và đồng bào yêu nước bị bắt. Các nhà tù Hỏa Lò ( Hà nội ), Khám Lớn ( Sài Gòn ), nhà tù Côn Đảo, ngục Kon Tum, Lao Bảo, Sơn La và các trại giam ở nhiều nơi khác chật đầy tù chính trị. Từ năm 1930 đến 1933, thực dân Pháp đã bắt giam 242.532 người. Trong những năm 1930 – 1935, ở Côn Đảo có 833 tù chính trị bị tra tấn đến chết. Ở ngục Kon Tum có hơn 300 tù chính trị bị thủ tiêu. Hai năm 1930 – 1931, ở Bắc Kì, thực dân Pháp mở 21 phiên tòa đại hình, xử 1094 vụ, trong đó có 164 án tử hình, 114 án khổ sai chung thân, 420 án đày biệt xứ .

Từ năm 1930 đến đầu năm 1933, Hội đồng đề hình và Tòa án phong kiến đã xử 6.902 vụ, trong đó 188 người bị kết án tử hình .

Ở Nam Kì, trong một phiên xét xử vào tháng 5 – 1933, Tóa án đại hình Sài Gòn xử các đảng viên cộng sản và những người yêu nước như: Ngô Gia Tự, Nguyễn Chí Diễu … , đã kết án tự hình 8 người, chung thân 19 người và 79 người bị kết án tù từ 5 đến 20 năm.

Chính sách khủng bố vô cùng tàn bạo của thực dân Pháp không làm suy giảm tinh thần dũng cảm, ý chí kiên cường, bất khuất của những chiến sĩ cách mạng sẳn sàng hi sinh vì Tổ quốc, vì lý tưởng cộng sản. Trước lúc hi sinh, Trần Phú còn nhắc các đồng chí của mình: “ Hãy giữ ý chí chiến đấu”. Ở trong xà lim đợi ngày lên máy chém, Nguyễn Đức Cảnh vẫn toàn tâm, toàn ý vào việc tổng kết công tác vận động công nhân. Ngô Gia Tự và những người cộng sản khác đã biến phiên tòa xử những chiến sĩ cách mạng thành diễn đàn tố cáo chủ nghĩa đế quốc: “Chính đế quốc Pháp cướp nước Việt Nam, nô dịch nhân dân chúng tôi. Điều đó thúc đảy chúng tôi làm cách mạng”. Lí Tự Trọng, thể hiện khí phách hiên ngang trước kẻ thù của dân tộc và tuyên bố: “Con đường của thanh niên chỉ có thể là con đường cách mạng”.

Thực dân Pháp cào cấu kết với bọn đế quốc và các thế lực phản động quốc tế (như Anh, Hà Lan, Nhật…) săn lùng các nhà cách mạng Việt Nam.

Bên cạnh đó, thực dân Pháp cũng dùng những htur đoạn mị dân, nhằm lừa bịp quần chúng.

Tháng 6 – 1931, thực dân Pháp lập ra “ủy ban điều tra” để nghiên cứu tình hình Đông Dương. Tháng 10 – 1931, Paul Reynaud, Bộ trưởng Bộ Thuộc địa sang nghiên cứu Đông Dương, tìm hiểu tình hình và định ra chính sách cải cách chế độ thuộc địa.

Năm 1932, thực dân Pháp đưa Bảo Đại về nước làm vua với một chương trình cải cách: Lập nội các mới, cải tổ nền giáo dục sơ học; cải tổ nền tư pháp bản xứ.

Trong khi củng cố bộ máy chính quyền bù nhìn, thực dân Pháp thực hiện một số cải cách nhằm lôi kéo tầng lớp quan lại, địa chủ, tư sản, trí thức cao cấp. Chẳng hạn ở Nam Kì được cử một đại biểu người Việt vào Thượng Hội đồng thuộc địc Pháp; tăng số nghị viện vào các viện Dân biểu Bắc Kì, Trung Kì, phòng canh nông, Phòng thương mại; mở các kì thi tuyển quan lại, cho người bản xứ được nhập quốc tịch Pháp với các điều kiện rộng rãi hơn.

Về kinh tế, chính quyền thực dân Pháp lập một số công ti kinh doanh công nghiệp, cho đấu thầu một số công trình thủy lợi, cầu đường, xây dựng với vốn nhỏ để những nhà tư sản bản xứ có thể tham gia.

Về giáo dục, thực dân Pháp tổ chức lại trường Cao đẳng Đông Dương, trường Luật, đặt thêm ngạch học quan ở Bắc Kì như Đốc học, Kiểm học, Giáo thụ, Huấn đạo. Chúng cấp thêm học bổng cho con cái quan lại và những người thuộc tầng lớp trên sang du học ở Pháp.

Về xã hội, thực dân Pháp tìm cách tranh thủ, lợi dụng các tôn giáo như lập các Xứ hội, Tỉnh hội Phật học ở Bắc Kì, Trung Kì, tổ chức các chi phái ở Nam Kì, tạo điều kiện cho đạo Cao Đài phát triển. Các loại sách bói toán, kiếm hiệp được bày bán khắp nơi; các sòng bạc, tiệm hút, nhà chứa mở ra nhan nhản ở các thành phố để lôi kéo thanh niên vào con đường ăn chơi, trụy lạc.
Chính sách khủng bố trắng và mị dân của thực dân Pháp đã có những tác động nhất định tới thái độ chính trị của các giai cấp, các tầng lớp xã hội Việt Nam với nhữnh mức độ khác nhau.

Tư sản mại bản và đại địa chủ quyền lợi gắn liền với đế quốc Pháp. Trong phong trào cách mạng 1930 – 1931, chúng đã tích cực cộng tác, làm tay sai cho thực dân Pháp đàn áp quần chúng. Sau phong trào này, chúng càng tỏ ra phản động, giúp thực dân Pháp đàn áp và lừa bịp nhân dân. Đại diện cho tầng lớp này là phái “Bảo hoàng” của Phạm Quỳnh, phái “Lập hiến” của Bùi Quang Chiêu, phái “Trực trị” của Nguyễn Văn Vĩnh…

Tư sản dân tộc, tiểu địa chủ bị sa sút trong cuộc khủng hoảng kinh tế, bị tư bản Pháp chèn ép nên họ vừa có tinh thần dân tộc, chống đế quốc, vừa sợ cách mạng, không giám trực tiếp tham gia phong trào đấu tranh của quần chúng.

Tầng lớp tiểu tư sản có tinh thần dân tộc, có thái độ ủng hộ phong trào đấu tranh cách mạng. Nhưng sau cuộc khủn bố của thực dân Pháp, một số dao động, không hoạt động, một số chán nản, hoài nghi, co mình.

Giai cấp nông dân là lực lượng đông đảo tham gia phong trào 1930 – 1931. Trước sự khủng bố, đàn áp của thực dân Pháp, một số nông dân hoang mang, dao động, tiêu cực, nhưng phần lớn vẫn tin tưởng vào cách mạng.
Giai cấp công nhân trưởng thành trong đấu tranh cách mạng. Cuộc khủng bố của thực dân Pháp làm cho phong trào đấu tranh của công nhân tạm lắng xuống, nhưng sức mạnh tiềm tàng của một giai cấp tiên tiến, sẵn sàng nổi lên khi thời cơ đến.

Trong hoàn cảnh đó, những người cộng sản vẫn kiên cường chiến đấu trên vị trí của mình. Những đảng viên bị cầm tù, bị tra tấn, bị kết án tử hình vẫn đấu tranh đến hơi thở cuối cùng. Họ đã biến nhà tù thành trường học cách mạng nhằm huấn luyện cán bộ cho các cuộc đấu tranh sắp tới. Ngoài ra họ còn đấu tranh chống các quan điểm sai lầm của các tù nhân Việt Nam Quốc dân Đảng, của bọn Tờrốtkít. Cuộc đấu tranh đó đã nâng cao trình độ lí luận cách mạng cho đảng viên, đã làm phân hóa hàng ngũ của các tổ chức chính trị khác, lôi kéo nhiều người trở thành đảng viên cộng sản. Khi có điều kiện thuận lợi, các chi bộ Đảng Cộng sản trong nhà tù đã tổ chức cho đảng viên vượt ngục ra ngoài gây cơ sở.

Trong lúc cơ sở cách mạng và quần chúng trong nước gần như bị tê liệt vì địch khủng bố, nhiều cán bộ lãnh đạo bị bắt, một số đảng viên cộng sản hoạt động ở Trung Quốc, Thái Lan tìm cách trở về hoạt động. Tại những tỉnh biên giới Việt Nam – Trung Quốc, như Cao Bằng, Lạng Sơn..., hay biên giới Lào – Xiêm (Thái Lan), như Thà Khẹt, Xavanakhẹt, các cơ sở cách mạng dần dần được gây dựng trở lại.

Ngày 27 – 2 – 1932, Quốc tế Cộng sản gửi thư yêu cầu các Đảng Cộng sản Pháp, Đảng Cộng sản Trung Quốc và Đảng Cộng sản Ấn Độ phát động quần chúng các nước này đấu tranh ủng hộ và cổ vũ công nông Đông Dương, lên án cuộc khủng bố tàn bạo của thực dân Pháp.

Ngày 9 – 3 – 1933, Đảng Cộng sản Pháp thành lập Ủy ban vận động tòa án ân xá tù chính trị Đông Dương. Sau đó, Gabriel Péri, một nghị sĩ thuộc Đảng Cộng sản trong Quốc hội Pháp dẫn đầu một phái đoàn sang Đông Dương điều tra tình hình. Phái đoàn đã yêu cầu chính quyền thực dân giải quyết nhiều yêu sáchquyền chính trị và đời sống của các tầng lớp nhân dân Đông Dương


Năm 1932, theo Chỉ thị của Quốc tế Cộng sản, Lê Hồng Phong và một số đồng chí thành lập Ban lãnh đạo Trung ương của Đảng. Tháng 6 – 1932, soạn thảo Chương trìng hành động với nội dung chủ yếu là đòi các quyền dân sinh, dân chủ cho nhân dân lao động, đòi trả tự do cho tù chính trị, đòi bỏ các thứ thuế bất công vô lý, các độc quyền rượu, muối ; củng cố và phát triển các đoàn thể quần chúng cách mạng; tăng cường xây dựng Đảng . Chương trình hành động còn đề ra những yêu cầu cụ thể riêng cho từng giai cấp, từng tầng lớp nhân dân, như công nhân, nông dân, binh lính, thợ thủ công, tiểu thương, tiểu chủ, dân nghèo thành thị, thanh niên, phụ nữ…

Dưới ánh sáng của Chương trình hành động, quần chúng công nông đã sáng tạo ra các hình thức tổ chức và đấu tranh thích hợp. Các tổ chức biến tướng, như hội cấy, hội cày, hội hiếu, hội đá bóng, hội đọc sách báo được lập ra. Phong tráo cách mạng của quần chúng dần dần được nhen nhóm trở lại. Các cuộc đấu tranh của công nhân, nông dân lại bùng nổ.


b.Đấu tranh phục hồi phong trào 1932 – 1935.

Cuộc khủng bố của thực dân Pháp đối với phong trào cách mạng 1930 – 1931 là cuộc khủng bố lớn nhất vế qui mô và sự dã man, từ khi Pháp đặt ách đô hộ ở Việt Nam, nhằm tiêu diệt Đảng Cộng sản Đông Dương, nhưng đế quốc Pháp không đạt được mục đích đó. Tuy bị tổn thất nặng nề, Đảng vẫn tồn tại và giữ được mối liên hệ với quần chúng. Dù ở trong tù hay hoạt động bên ngoài và trước tòa án đế quốc, Đảng viên và cán bộ cách mạng đều nêu cao phẩm chất của người cộng sản, tìm được nhiều cách đấu tranh hoạt động để gây dựng lại và đưa phong trào cách mạng vượt qua khó khăn, thử thách, tiếp tục lãnh đạo quần chúng đấu tranh.

Năm 1932, có 230 cuộc đấu tranh của công nhân. Năm 1933, có 244 cuộc.
Ở Bắc Kì, từ năm 1931 đến năm 1935 có 551 cuộc đấu tranh. Tiêu biểu là cuộc bãi công của công nhân làm đường xe lửa ở Quảng Nam, Quảng Ngãi (1932 – 1935), công nhân nhà máy in Ardin, Testelin, Opinion ở Sài Gòn: công nhân xe kéo ở Gia Định, công nhân đồn điền Phú Quốc, Dầu Tiếng; công nhân 12 nhà máy xây gạo ở Chợ Lớn (5 – 1934); phong trào đấu tranh của nông dân ở Gia Định, Long Xuyên, Trà Vinh, Khánh Hòa, Ninh Thuận, Bình Thuận, Cao Bằng, Lạng Sơn…

Ở Hà Nội, Hải Phòng, Hải Dương, Sài Gòn, Chợ Lớn, Gia Định có những cuộc bãi thị, bãi khóa. Binh lính người Việt Nam ở Vũng Tàu, sân bay Bạch Mai (Hà Nội) biểu tình. Trong thời kì này, cũnh xuất hiện hình thức đấu tranh mới là đấu tranh nghị trường mà bắt đầu là vận động bầu cử. Trong cuộc bầu cử vào Hội đồng Thành phố Sài Gòn, đại biểu Đảng Cộng sản giành được thắng lợi, chính quyền thực dân đã tuyên bố hủy bỏ kết quả bầu cử và giải tán Hội đồng. Năm 1935, đại biểu lao động lại trúng cử vào Hội đồng Thành phố Sài Gòn, chính quyền thực dân một lần nữa hủy bỏ kết quả bầu cử.

Năm 1935, nhân dịp kỉ niệm thành lập Đảng, ngày Quốc tế lao động, tại nhiều địa phương, như Sài Gòn, Chợ Lớn, Gia Định, Biên Hòa, Bến Tre, Cà Mau, Nghệ An, Bắc Ninh, Cao Bằng… xuất hiện cờ đỏ, truyền đơn, với những khẩu hiệu đòi tăng lương giảm giờ làm, bỏ sưu, giảm thuế, ủng hộ Liên Xô, đánh đổ đế quốc Pháp…

Thời kì 1931 – 1935 có một nét nổi bật, đó là cuộc đấu tranh trên lĩnh vực tư tưởng – văn hóa giữa những quan điểm khoa học đúng đắn của chủ nghĩa Mác – Lênin và những quan điểm sai lầm của các giai cấp phi vô sản.

Trước hết là cuộc đấu tranh chống khuynh hướng tư tưởng chính trị sai lầm của Việt Nam Quốc dân Đảng, diễn ra trong các nhà tù Hỏa Lò, Côn Đảo. Lí luận sắc bén và thực tiễn chính xác của những người cộng sản đã có sức thuyết phục và chiến thắng. Qua cuộc đấu tranh, nhiều đảng viên Quốc dân Đảng đã chuyển sang đấu tranh dưới ngọn cờ của Đảng Cộng sản.

Thực dân Pháp rất có ý thức sử dụng hình thức tổ chức, tư tưởng và văn hóa để bảo vệ, cũng cố sự thống trị. Chúng tìm mọi cách xuyên tạc chủ nghĩa Mác – Lênin, tuyên truyền chống cộng sản. Chúng lợi dụng tôn giáo để mê hoặc các tầng lớp nhân dân. Thời 1931 – 1935, các Hôi phật học do các Tổng đốc, Thống sứ, Khâm sứ chủ trì hoặc là hội viên danh dự, lần lượt ra đời, cùng với các báo Từ bi âm, Viên âm nguyệt san, Đuốc tuệ. Những phần tử phản động trong Giáo hội Thiên chúa giáo cũng được thực dân Pháp tạo điều kiện thuận lợi đi vào những vùng có phong trào cách mạng để phá hoại.


Thực dân Pháp gieo rắc những phong tục đòi bại, cho mở nhiều sòng bạc, tiệm hút, tiệm nhảy, cô đầu, để đưa thanh niên vào con đường trụy lạc.
Trong thời kì này, có một hiện tượng đáng chú ý là sự xuất hiện trào lưu “Thơ mới” và văn học lãng mạn mà tiêu biểu là nhóm Tự lực văn đoàn. Con đường của họ là con đường cải lương tư sản. Nó thể hiện tâm trạng, tư tưởng bế tắc của tư sản dân tộc và tiểu tư sản trí thức trong thời kì khủng bố trắng và khủng hoảng kinh tế.

Bên cạnh đó, có một số văn nghệ sĩ hiện thực, tiêu biểu cho bộ phận lành mạnh hơn của tiểu tư sản thành thị. Qua các tác phẩm với nhiều thể loại như: thơ trào phúng, tiểu thuyết, phóng sự, họ châm biếm, đả kích bọn quan lại, cường hào, các tệ nạn xã hội,…Tuy vậy, họ vẫn chưa thóat khỏi ảnh hưởng của tư tưởng dân chủ tư sản.

Từ 1932 đến 1935, những đảng viên hoạt động hợp pháp, sử dụng báo chí công khai đấu tranh chống các quan điểm chính trị, triết học, văn học và nghệ thuật tư sản, bảo vệ và tuyên truyền chủ nghĩa Mác – Lênin, đường lối, chủ trương của Đảng Cộng sản Đông Dương. Các cuộc tranh luận về “Duy vật hay duy tâm”, “nghệ thuật vị nghệ thuật hay nghệ thuật vị nhân sinh” diễn ra trên các báo phụ nữ thời đàm, Đời mới, Ánh sáng, Tiến bộ… kéo dài từ tháng 8 – 1933 đến năm 1935.

Đến cuối năm 1933, các tổ chức của Đảng Cộng sản Đông Dương dần dần được xây dựng và củng cố lại. Đầu năm 1934, với sự giúp đỡ của Quốc tế Cộng sản, Ban lãnh đạo hải ngoại của Đảng Cộng sản Đông Dương được thành lập, do Lê Hồng Phong đứng đầu. Trên thực tế, Ban lãnh đạo hải ngoại làm chức năng Ban chấp hành Trung ương lâm thời của Đảng. Cuối năm 1934 đầu năm 1935, các xứ ủy Nam Kì, Bắc Kì và Trung Kì lần lượt được lập lại. Tháng 9 năm 1934, xứ ủy Lào được thành lập. Để thuận tiện cho việc liên lạc, Ban lãnh đạo hải ngoại của Đảng Cộng sản Đông Dương đã lập ra Ban Chấp ủy Nam Đông Dương và Ban Chấp Bắc Đông Dương. Tạp chí Bônsêvich của Ban lãnh đạo hải ngoại và Tạp chí cộng sản của Ban Chấp ủy Nam Đông Dương đã được phát hành tới từng cơ sở.

Đầu năm 1935, khi hệ thống tổ chức của Đảng Cộng sản Đông Dương được xây dựng thông suốt, Ban lãnh đạo hải ngoại quyết định triệu tập Đại hội đại biểu lần thứ nhất. Đại hội được tiến hành trong các ngày từ 27 đến 31 – 3- 1935 tại Ma Cao (Áo Môn, Trung Quốc). Tham dự đại hội có 13 đại biểu thay mặt cho 600 đảng viên thuộc các đảng bộ trong nước và các tổ chức của Đảng đang hoạt động ở nước ngòai.

Sau khi phân tích, đánh giá tình hình thế giới và trong nước, kiểm điểm phong trào cách mạng, công tác tổ chức và lãnh đạo của các cấp bộ Đảng trong những năm 1932 – 1935, Đại hội nhận định: mặc dầu các tổ chức của Đảng đã được khôi phục, lực lượng của Đảng vẫn chưa được phát triển; ở các khu vực công nghiệp, công nhân gia nhập Đảng còn ít; hệt thống tổ chức Đảng chưa thật thống nhất, sự liên hệ giữa các cấp bộ Đảng chưa được chặt chẽ. Đại hội nêu rõ ba nhiệm vụ chủ yếu của Đảng trong thời kì trước mắt là: củng cố và phát triển Đảng, tranh thủ quần chúng rộng rãi, chống chiến tranh đế quốc.

Đại hội thông qua Nghị quyết chính trị, Điều lệ Đảng, các Nghị quết về vận động công nhân, nông dân, binh lính, thanh niên, phụ nữ; về công tác liên minh phản đế, về công tác trong các dân tộc thiểu số, về đội Tự vệ và Về cứu tế đỏ.

Đại hội đã bầu ra Ban Chấp hành Trung ương Đảng gồm 13 ủy viên (trong đó có Lê Hồng Phong, Hà Huy Tập, Phùng Chí kiên, Hoàng Đình Giong… và bầu Lê Hồng Phong làm Tổng Bí thư). Ban Chấp hành Trung ương nhất trí cử Nguyễn Ái Quốc là đại diện của Đảng bên cạnh Quốc cộng sản.


Tập tin:LeHongPhong.gif

Lê Hồng Phong (1902-1942)


Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ nhất của Đảng là sự kiện lịch sửquan trọng. Đại hội đã khôi phụcđược hệ thống tổ chức  Đảng từ trung ương đến địa phương, từ trong nước ra nước ngoài, đã thống nhất được phong trào đấu tranh của các tầng lớp nhân dân dưới sự lãnh đạo của Ban Chấp hành Trung ương.

Tuy nhiên, lúc đó tình hình thế giới và trong nước đã có nhiều thay đổi. Đảng phải kiệp thời căn cứ vào sự phát triển của cách mạng để đề ra phương hướng hoạt động thích hợp. Nhưng Đại hội lại chưa tổng kết được kinh nghiệm lãnh đạo của Đảng trong 5 năm qua, kể từ khi thành lập, nhất là trong thời kì đấu tranh khôi phục và phát triển phong trào cách mạng.

Thiếu sót của Đại hội là không nhạy bén với tình  hình mới, không thấy rõ nguy cơ chủ nghĩa phát xít trên thế giới và khả năng mới để đấu tranh chống phát xít, chống bọn phản động thuộc địa, đòi tự do, dân sinh, dân chủ, cơm áo và hòa bình. Do đó, Đại hội không đề ra chủ trương chỉ đạo chiến lược, sách lược cách mạng phù hợp với tình hình mới.

Thiếu sót này được bổ sung khi có Nghị quyết Đại hội lần thứ VII của Quốc tế Công sản và Nghị quyết Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng tháng 7-1936.

Tháng 7- 1935, Đoàn đại biểu Đảng Cộng sản Đông Dương do Lê Hồng Phong dẫn đầu đã tham dự Đại hội lần thứ VII của Quốc tế công sản ở Mátxcơva.

Tại Đại hội Quốc tế Công sản, thành tích đấu tranh của giai cấp công nhân và nông dân lao Động Dương được đánh giá cao. Đảng Cộng sản Đông Dương được công nhân là đội ngũ kiên cường trong phong trào Cộng sản Quốc tế. Lê Hồng Phong được bầu làm ủy viên Ban chấp hành Quốc tế Công sản.


Trên cơ sở nghị quyết của Đại hội Quốc tế Cộng sản, vận dụng sát với tình hình cách mạng Đông Dương, Đảng Cộng sản Đông Dương xác dịnh phương hướng, mục tiêu đấu tranh, chủ động chuẩn bị đón một cao trào cách mạng mới.


 
Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết

  Ý kiến bạn đọc

  Ẩn/Hiện ý kiến

Mã chống spam   

Những tin mới hơn

 

Những tin cũ hơn

Thời điểm thi THPT QG

Bạn muốn tổ chức thi thử vào THPT QG khi nào?

Top