Liên quân Việt - Lào

 - Người đăng bài viết: nguyễn thị linh  - Chuyên mục :  Đã xem: 20 

Trung tâm Dạy tốt giới thiệu tới bạn đọc bài viết về Liên quân Việt - Lào.

 


Là những nước có chung đường biên giới, có vị trí địa lý kề cận, có những nét lịch sử - văn hóa tương đồng, Việt Nam và Lào sớm có mối quan hệ mật thiết gắn bó máu thịt. Tình đoàn kết hữu nghị giữa hai dân tộc Việt - Lào không chỉ có từ rất sớm, mà còn khá bền chặt. Trong những năm tháng đấu tranh vì sự nghiệp độc lập, tự do và xây dựng đất nước, trên tinh thần “giúp bạn là tự giúp mình”, Quân tình nguyện Việt Nam luôn trước sau thủy chung kề vai, sát cánh cùng nhân dân Lào vững bước vượt qua mọi thách thức, khó khăn, góp phần củng cố và phát triển vững chắc tình hữu nghị giữa hai dân tộc anh em.
1 - Ngược dòng thời gian
Gần một thế kỷ dưới ách thống trị của thực dân Pháp, hai dân tộc Việt - Lào đã gắn bó với nhau trong cuộc đấu tranh chống kẻ thù chung. Có chung cảnh ngộ mất độc lập, tự do, từ rất sớm, tình đoàn kết chiến đấu giữa nhân dân Việt Nam và Lào được hình thành như một lẽ tự nhiên tất yếu, nhân dân Việt Nam và nhân dân Lào đã tự nguyện liên kết nổi dậy đấu tranh chống thực dân Pháp với những hình thức khác nhau.
Tháng 02-1930, Đảng Cộng sản (ĐCS) Việt Nam ra đời tạo tiền đề cho việc thành lập ĐCS Đông Dương, vào tháng 10-1930, nhận trách nhiệm lãnh đạo cách mạng Đông Dương, đánh dấu bước ngoặt quan trọng trong phong trào đấu tranh nơi đây. Nghị quyết Hội nghị tháng 10-1930 xác định phải khuếch trương phong trào cách mạng cho đều khắp các xứ Đông Dương, nhân dân Đông Dương cần đoàn kết chống ách thống trị của thực dân Pháp, giành độc lập dân tộc. Trên nguyên tắc “dân tộc Việt Nam đoàn kết chặt chẽ với dân tộc Miên, Lào thì sức mạnh đủ đánh tan thực dân Pháp”1, những người cộng sản Đông Dương đã nhanh chóng xây dựng và củng cố liên minh đoàn kết chiến đấu giữa các dân tộc trên bán đảo Đông Dương.
Cuộc đấu tranh của nhân dân Việt Nam và Lào càng trở nên gắn bó, khi Hội nghị Trung ương lần thứ 8 (5-1941) khẳng định: “Cuộc cách mạng Đông Dương trong giai đoạn hiện nay là một cuộc cách mạng dân tộc giải phóng”; chỉ rõ lúc này vấn đề đấu tranh không phải là giải phóng riêng rẽ từng xứ, mà các dân tộc Đông Dương phải thành lập các đoàn thể phản đế để đi đến thành lập Mặt trận dân tộc thống nhất phản đế Đông Dương. Hội nghị Trung ương lần thứ 8 quyết định thành lập Việt Nam độc lập đồng minh (Việt minh); đồng thời, chủ trương hết sức giúp đỡ Lào tổ chức Ai Lao độc lập đồng minh.
Tháng 3-1945, khi Nhật đảo chính Pháp, ở Việt Nam dấy lên cao trào kháng Nhật cứu nước đã tác động và cổ vũ mạnh mẽ các lực lượng yêu nước Lào đang đấu tranh vì quyền độc lập, tự do thiêng liêng. Tháng 8-1945, Việt Nam Tổng khởi nghĩa thắng lợi. Cùng thời gian đó, nhân dân Lào đã tiến hành giành chính quyền ở một số thành phố, thị xã, như: Viêng Chăn, Thà Khẹc, Xa-vẳn-na-khệt, Sầm Nưa, Luông Pha Băng. Tháng 9-1945, tổ chức Lào Ít-xa-la và Việt kiều yêu nước nhất trí thành lập Liên quân Lào - Việt đặt dưới sự chỉ huy của một Bộ Tham mưu chung do Quản Xỉng và Vũ Hữu Bỉnh đứng đầu, các Ủy ban phòng thủ Lào - Việt cũng được tổ chức ở các địa phương. Đây là cơ sở quan trọng đầu tiên, thuận lợi cho việc Quân tình nguyện Việt Nam sang giúp đỡ nhân dân Lào sau này trong cuộc chiến đấu bảo vệ nền độc lập.
2 - Kề vai, sát cánh cùng nhân dân Lào đấu tranh vì độc lập, tự do và xây dựng đất nước
Các nước Đông Dương độc lập chưa bao lâu, thực dân Pháp đã nổ súng đánh chiếm Sài Gòn, Phnôm-pênh, xúc tiến xâm lược Lào, mở rộng chiến tranh ra toàn cõi Đông Dương.
Sớm xác định: Đông Dương là một chiến trường, chiến đấu theo một chiến lược chung, ngày 25-11-1945, ĐCS Đông Dương ra Chỉ thị “Kháng chiến kiến quốc”, chủ trương thống nhất Mặt trận Việt - Miên - Lào, thành lập Bộ Tư lệnh Lào - Miên. Ban Thường vụ Trung ương ĐCS Đông Dương chỉ thị cho Xứ ủy Lào đẩy mạnh võ trang, tuyên truyền, vận động quần chúng, phát triển chiến tranh du kích, “đặng bao vây lại quân Pháp ở những nơi sào huyệt của chúng và quét sạch chúng khỏi đất Lào”2. Để đối phó với kế hoạch đánh chiếm các cứ điểm trên các trục đường chính của Lào nối liền một số thị xã, Liên quân Lào - Việt đã được tổ chức ở nhiều nơi và đến đầu năm 1947, nhiều tỉnh thuộc chiến khu IV Việt Nam đã tổ chức Ban Biên chính để liên hệ, phối hợp và giúp đỡ các địa phương Lào đẩy mạnh đấu tranh. Ngày 30-10-1949, Ban Thường vụ Trung ương ĐCS Đông Dương quyết định tổ chức các lực lượng quân sự Việt Nam sang giúp Lào chiến đấu thành hệ thống riêng, lấy tên là Quân tình nguyện.
Thực hiện nhiệm vụ quốc tế, cán bộ và quân tình nguyện Việt Nam đã giúp đỡ nhân dân Lào xây dựng cơ sở chính trị và vũ trang quần chúng, phát động chiến tranh du kích rộng khắp. Thực hiện chủ trương đẩy mạnh chi viện quân sự cho các chiến trường Lào, riêng năm 1951, lực lượng cán bộ và bộ đội Việt Nam chi viện cho chiến trường Lào tăng lên đến 12.000 người.
Những năm 1953 - 1954, phối hợp với quân - dân Lào, Bộ đội Việt Nam mở chiến dịch Thượng Lào, Phong Xa Lỳ, Trung và Hạ Lào. Thắng lợi của những chiến dịch nói trên đã nối thông hậu phương kháng chiến của cách mạng Lào với vùng tự do của cách mạng Việt Nam, mở rộng vùng giải phóng sau lưng Sài Gòn; đánh thông đường chiến lược Bắc - Nam Đông Dương; giành địa bàn chiến lược Tây Nguyên, làm phá sản kế hoạch Na-va của Pháp, buộc Pháp phải rút về cố thủ tại Điện Biên Phủ.
Chiến thắng Điện Biên Phủ và những thắng lợi liên tiếp trên mặt trận quân sự đã tạo đà để Việt Nam và Lào giành thắng lợi trên mặt trận ngoại giao, buộc Pháp phải ký Hiệp định Giơ-ne-vơ. Tuy nhiên, là kết quả của một cuộc hòa giải không vững chắc, các giải pháp của Hội nghị Giơ-ne-vơ đã tạo kẽ hở cho Mỹ vào Đông Dương. Từ năm 1954 trở đi, đế quốc Mỹ trở thành đối tượng chủ yếu của cách mạng Việt Nam và Lào; nhân dân Việt Nam và nhân dân Lào cùng bước vào cuộc kháng chiến chống Mỹ hết sức ác liệt. Có chung một kẻ thù, tình đoàn kết, quan hệ chiến đấu keo sơn giữa nhân dân Việt Nam và Lào thời kỳ chống thực dân Pháp, nay cùng chung chiến hào chống Mỹ, tiếp tục được kế thừa, nâng lên và phát triển.
Thực hiện điều khoản trong Hiệp định Giơ-ne-vơ, lực lượng Quân tình nguyện Việt Nam rút khỏi Lào trong vòng 120 ngày, Bộ đội Pa-thét Lào chuyển quân tập kết về hai tỉnh Sầm Nưa và Phong Xa Lỳ. Trong điều kiện Mỹ chuẩn bị lực lượng quân sự tiến công hai tỉnh tập kết nhằm tiêu diệt lực lượng Pa-thét Lào và theo yêu cầu của Chính phủ kháng chiến Lào, Đảng, Nhà nước Việt Nam quyết định cử lực lượng Cố vấn quân sự (từ năm 1959 là Chuyên gia quân sự) sang giúp đỡ cách mạng Lào, bên cạnh các cấp ủy và các lãnh đạo của Lào từ Trung ương đến khu, tỉnh.
Nhằm giúp nhân dân Lào xây dựng lực lượng vũ trang (LLVT) cách mạng, tháng 10-1954, Bộ Tổng Tham mưu Quân đội nhân dân Việt Nam chủ trương chấn chỉnh Bộ đội tình nguyện Việt Nam. Trên tinh thần không tổ chức thêm lực lượng mà chỉ kiện toàn các đơn vị hiện có, Bộ Tổng Tham mưu tiến hành chỉnh huấn chính trị, quân sự, sắp xếp đội ngũ cán bộ, cơ quan chỉ huy và phân chia lại các khu vực chỉ huy Quân tình nguyện cho thích hợp. Thi hành Hiệp định Giơ-ne-vơ và Hiệp định đình chiến ở Lào, các lực lượng Quân tình nguyện Việt Nam và LLVT Lào Ít-xa-la khẩn trương chuẩn bị về mọi mặt, chuyển trọng tâm hoạt động phù hợp với tình hình cách mạng.
Bước vào Xuân - Hè năm 1960, xuất hiện cục diện mới trên chiến trường Đông Dương. Cách mạng Đông Dương chuyển từ thế giữ gìn lực lượng sang thế tiến công và trong xu thế đó, trên chiến trường Lào, Quân tình nguyện Việt Nam cùng lực lượng Pa-thét Lào đã mở chiến dịch Cánh Đồng Chum - Xiêng Khoảng (1961), Nậm Thà (1962), Đường số 8, Đường 12 (1963), Nậm Bạc (1968), Cánh Đồng Chum (1964, 1969), v.v. Bộ đội tình nguyện Việt Nam chủ động phối hợp với LLVT yêu nước Lào đẩy mạnh tác chiến ở khu vực hành lang phía Tây Trường Sơn, xây dựng, củng cố và không ngừng mở rộng tuyến đường Trường Sơn, bất chấp sự đánh phá, ngăn chặn quyết liệt của đối phương. Để bảo vệ và mở rộng tuyến đường, Bộ đội tình nguyện Việt Nam và lực lượng Pa-thét Lào đã tổ chức nhiều đợt chiến đấu giải phóng Mường Phìn, Bản Đông (1960 - 1961), Đường 12, từ Mụ Dạ đến Đường 9 (1962 - 1963), Pha Lam - Đồng Hến (1964 - 1965), v.v.
Từ năm 1969, đáp trả các hoạt động quân sự của Mỹ đưa chiến tranh đặc biệt ở Lào lên một bước mới, Bộ đội tình nguyện Việt Nam cùng với lực lượng Pa-thét Lào tổ chức chiến dịch Cánh Đồng Chum (1970, 1972), Đường 9 - Nam Lào (1971), giải phóng A-tô-pơ, cao nguyên Bô-lô-ven, Sa-ra-van, v.v. Các chiến dịch trên tạo ra những bước nhảy vọt cho chiến tranh cách mạng Lào; đồng thời, hỗ trợ đắc lực, tạo thời cơ thuận lợi cho các bước chuyển biến của chiến tranh cách mạng ở Việt Nam. Những thắng lợi to lớn cả về chính trị, quân sự, ngoại giao, đặc biệt là quân sự trên chiến trường ba nước Đông Dương đã buộc Mỹ phải ký Hiệp định Pa-ri (27-01-1973) rút quân khỏi Việt Nam, ký Hiệp định Viên Chăn về Lào (21-02-1973).
Tháng 12-1973, tại cuộc hội đàm giữa hai đoàn đại biểu cấp cao Đảng Lao động Việt Nam và Đảng Nhân dân cách mạng Lào, hai Đảng thống nhất đưa các đơn vị Quân tình nguyện Việt Nam đứng chân ở tuyến sau, giúp bảo vệ, giữ vững vùng giải phóng, hỗ trợ cho bộ đội giải phóng Lào chiến đấu ở phía trước. Thực hiện chủ trương trên, Việt Nam từng bước rút Chuyên gia ở tỉnh và huyện về nước. Tuy nhiên, sau ngày giải phóng hoàn toàn đất nước, trước tình hình chính trị phức tạp, tháng 12-1976, Bộ Chính trị Đảng Nhân dân cách mạng Lào chính thức yêu cầu Bộ đội Việt Nam trở lại hỗ trợ, giúp đỡ nhân dân Lào ổn định an ninh, trật tự. Với tinh thần đó, ngày 22-9-1977, Hiệp định hợp tác phòng thủ giữa hai Bộ Quốc phòng Việt Nam và Lào được ký kết, hợp pháp hóa về mặt pháp lý quốc tế cho sự có mặt của Quân đội Việt Nam trên đất nước Lào. Quân tình nguyện Việt Nam tiếp tục kề vai, sát cánh cùng nhân dân Lào xây dựng và bảo vệ đất nước cho đến năm 1987 mới rút hết về nước, hoàn thành trách nhiệm lịch sử của mình.
 3 - “Ôn cố tri tân”
Suốt chiều dài hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm lược, liên minh, phối hợp chiến đấu với quân và dân Lào luôn được Đảng, Nhà nước Việt Nam coi trọng. Trong những bước ngoặt của kháng chiến, liên minh, phối hợp chiến đấu giữa Việt Nam và Lào góp phần tạo ra cục diện mới có lợi cho cách mạng Đông Dương. Phối hợp hành động với quân và dân Lào, Quân tình nguyện Việt Nam đã đóng góp tích cực vào những thắng lợi to lớn trong chiến đấu bảo vệ độc lập dân tộc và xây dựng đất nước của hai dân tộc Việt - Lào.
Ngày nay, trong tình hình mới với những điều kiện lịch sử cụ thể của mỗi nước, vấn đề đoàn kết và hợp tác giữa hai dân tộc Việt - Lào lẽ đương nhiên cần được giải quyết trên nguyên tắc mới, phù hợp với lợi ích chính đáng của nhân dân mỗi nước cũng như sự ổn định, hòa bình trong khu vực và trên thế giới. Để quan hệ đặc biệt Việt - Lào luôn bền chặt, phát huy hiệu quả ở hiện tại, soi rọi từ quá khứ, có thể đúc rút một vài kinh nghiệm lịch sử như sau:
Thứ nhất, dù Lào và Việt Nam thống nhất trong mục tiêu chống kẻ thù chung, song Việt Nam và Lào đều là những quốc gia độc lập. Vì thế, giúp đỡ nhân dân Lào vì lợi ích của mỗi nước cũng như vì lợi ích chung của hai nước cần tuân thủ nguyên tắc tôn trọng chủ quyền, độc lập, tự chủ của Lào, đồng thời giữ quan hệ bình đẳng, nêu cao tinh thần quốc tế, luôn ý thức “giúp bạn là tự giúp mình”. Những nguyên tắc này phải được thấm nhuần, quán triệt từ trong tư duy, nhận thức cho tới hành động.
Thứ hai, để sự giúp đỡ đối với nhân dân Lào phát huy tối đa tác dụng, đạt kết quả cao, cần thấy rõ những đặc điểm, điều kiện cụ thể của Lào, của Quân đội Lào, từ đó đưa ra những biện pháp phối hợp hành động phù hợp. Đặc biệt, phải luôn phát huy nỗ lực chủ quan, chủ động giành phần khó về mình. Luôn luôn duy trì các hình thức trao đổi, bàn bạc tập thể với lãnh đạo Lào một cách thường xuyên, nhất trí trong kế hoạch hành động, đồng thuận cao trong công tác.
Thứ ba, các cán bộ và lực lượng Quân tình nguyện Việt Nam tham gia công tác, hoạt động trên đất Lào cần có sự hiểu biết, chấp hành đầy đủ, nghiêm chỉnh các đường lối, chính sách của Lào; tôn trọng phong tục tập quán của Lào cũng như chấp hành nghiêm chỉnh các chính sách và kỷ luật chính trị của Nhà nước Việt Nam, Nhà nước Lào. Cẩn trọng trong hành động và phát ngôn, tránh các hiểu lầm không đáng có, tránh sự kích động tinh thần dân tộc hẹp hòi từ phía các lực lượng chống đối nhằm chia rẽ và làm suy yếu quan hệ hữu nghị đặc biệt Việt - Lào.
Thứ tư, trong công tác giúp đỡ nhân dân Lào, bên cạnh việc ra sức thực hiện nhiệm vụ đã đề ra, phải hết sức chú trọng giúp Lào phát triển lực lượng, củng cố thực lực mọi mặt, tăng cường khả năng tự lực cánh sinh theo yêu cầu và chủ trương của Lào. Bên cạnh đó, cần chú trọng tổng kết kinh nghiệm các mặt công tác, đặc biệt là công tác quân sự, công tác vận động quần chúng, tìm hiểu sâu những đặc điểm và quy luật của đấu tranh cách mạng ở Lào.
Như vậy, đi qua những “đắng cay, ngọt bùi”, sát cánh cùng nhân dân Lào trên những chặng đường chiến tranh chông gai, hay xây dựng trong hòa bình, Quân tình nguyện Việt Nam luôn nỗ lực chiến đấu, “thương người như thể thương thân”, coi độc lập, tự do của Lào như của chính Việt Nam. Đó là biểu hiện cao đẹp của nghĩa tình Việt - Lào thủy chung son sắt, trước sau như một, “tình sâu hơn nước Hồng Hà, Cửu Long”. Trải qua những vận động thăng trầm của lịch sử, quan hệ Việt - Lào thêm gắn bó keo sơn. Sự gắn bó ấy được thử thách, tôi rèn trong trường kỳ đấu tranh vì mục tiêu hòa bình, độc lập, tự do, phồn vinh và phát triển. Đó cũng là quan hệ hợp tác, giúp đỡ hai chiều, “giúp bạn là tự giúp mình” như “lửa đã thử vàng”. Trên nền tảng ấy, tình hữu nghị đặc biệt Việt - Lào trường tồn mãi với thời gian, như ngọn lửa ấm áp nghĩa tình soi sáng những chặng đường cùng “đồng cam cộng khổ” của hai dân tộc anh em trước đây cũng như hiện nay và mãi mãi về sau.


 
Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết

  Ý kiến bạn đọc

  Ẩn/Hiện ý kiến

Mã chống spam   

Những tin mới hơn

 

Những tin cũ hơn

Thời điểm thi THPT QG

Bạn muốn tổ chức thi thử vào THPT QG khi nào?

Top