LỊCH SỬ PHỐ HÀNG BẠC

 - Người đăng bài viết: nguyễn thị linh  - Chuyên mục :  Đã xem: 53 

Trung tâm dạy tốt giới thiệu tới bạn đọc về lịch sử phố hàng Bạc. Mời bạn đọc tham khảo.

 

 

LỊCH SỬ PHỐ HÀNG BẠC

Cho tới những năm tháng cuối thế kỷ 19, các cô gái trung lưu mới lớn ở vùng ven kinh thành, khi gần Tết, đổ xô ra phố Hàng Bạc mua những khuyên đeo tai và những bộ xà tích đeo vào thắt lưng để đi chơi hội. Xà tích gồm nhiều sợi bạc tết vuông vắn dài chừng 40 cm để móc vào đó chiếc ống vôi bạc, con dao nhỏ cán bạc để bổ cau, vài chiếc chìa khóa để tỏ ra ta đây là tay hòm chìa khóa trong nhà. Rồi khăn nhiễu tam giang, yếm thắm, áo nâu non, quần lĩnh, thắt lưng hoa đào kèm theo bộ xà tích trắng xóa khi bước đi, đong đưa như khơi trêu bao chàng trai đi xem hội, xem người.

Cửa hàng kim hoàn ở Hàng Bạc ngày ấy vừa làm hàng, vừa bán hàng. Hàng làm sẵn thường là các thứ bằng bạc. Còn các hàng bằng vàng thì ít khi người ta mua hàng làm sẵn mà thường là đem vàng đến đặt làm. Cửa hàng phía ngoài đặt chiếc tủ kính nhỏ, treo vài mặt hàng bằng bạc: vòng cổ, vòng tay, con dao chuôi bạc, cái ống vôi... Cái tủ bên trong mới treo đồ vàng nhưng cũng chỉ loáng thoáng. Giữa hai tủ là cái lò và cái bễ nhỏ. Người thợ ngồi trên chiếc chiếu nhỏ, kéo bễ, nấu vàng bạc rồi cùng đồ nghề đe, búa, kìm, kéo... gia công các mặt hàng.

Chục năm sau, có cải tiến. Người thợ làm việc trên bàn. Bàn đó gần vuông, cao. Dưới mặt bàn là ngăn kéo đựng các dụng cụ: các loại đe nhất, đe chim, đe đồng, các loại búa cái, búa đồng, búa sừng, kìm, kéo, nỉa, nuột, ve... Trên bàn không còn có bễ hay đèn thổi bằng dầu thảo mộc nữa mà thay bằng đèn xì dùng hơi dầu xăng (nay thì đã có nhiều công cụ hiện đại hơn). Về kiến trúc, cho tới đầu thế kỷ 20 phố này đa số là các nhà ống một tầng, nếu có gác thì là “chồng diêm” thấp thỏi, cửa sổ bé nhỏ trông xuống đường. Hiện nay một vài ngôi nhà như thế vẫn còn, như nhà số 47. Mãi tới những năm 20 mới có nhiều nhà xây kiểu “tây” hai ba tầng. Tủ kính đèn điện choáng lộn. Những nhà xây bề thế phần lớn ở đoạn cuối, như Quảng Thái số 115, Chân Hưng (86), Đức Huy 92... Hình ảnh nhà ống cũ kỹ đã bị xóa bỏ. Đoạn giữa ít thay đổi, nhà cũ còn nhiều. Và các cửa hàng kim hoàn cũng thưa dần, có chen vài cửa hàng khác như hiệu Giũ Nguyên làm bánh kẹo ngon có tiếng, hiệu thuốc cam trẻ em nhãn Con Hươu được rất nhiều người tín nhiệm... Đoạn cuối giáp Hàng Mắm lại có bán đồ sành, đồ đá. 

Vào thời Lê, thế kỷ 18, Hàng Bạc thuộc phường Đông Các đã là nơi đổi chác, mua bán bạc nén. Sang đầu thế kỷ 19, đây là đất hai thôn Đông Thọ (đầu phía Đông) và Dũng Hãn (đầu phía Tây). Tới giữa thế kỷ 19, hai thôn này nhập lại thành ra thôn Dũng Thọ. 

Phố Hàng Bạc ngày trước có ba nghề khác nhau: nghề đúc bạc nén, nghề kim hoàn và nghề đổi tiền. Những người làm nghề đúc bạc là dân làng Châu Khê (nay thuộc Bình Giang, Hải Dương). Tương truyền là đời Lê Thánh Tông (1460-1497) có ông Lưu Xuân Tín, người làng này được Vua cho phép lập một xưởng đúc bạc nén ở kinh thành. Ông đưa người làng ra làm nghề tại “Tràng” đúc bạc (nay là chỗ số nhà 58). Họ lập hai ngôi đình là “Đình trên” tức Trương đình (số nhà 50) và “Đình dưới” tức Kim Ngân đình (số nhà 42) “Tràng” là nơi chuyên nấu bạc, đúc thành nén. Còn “Đình” là nơi nhận nguyên liệu và nộp thành phẩm cho “Ty quan” người thay mặt triều đình đồng thời là nơi thờ tổ nghề đúc bạc đã là nghề “đặc quyền” của dân làng Châu Khê. Ngoài nghề này ra, ở đây còn có nghề đổi tiền, đổi bạc. Thời xưa, chưa tiêu bằng bạc giấy, mà bằng tiền đồng, tiền kẽm, bạc vụn, bạc nén. Hễ khi cần chi một khoản tiền lớn mà dùng tiền hay bạc vụn thì cồng kềnh, ngược lại khi tiêu dùng nhỏ mà trong tay chỉ có bạc nén thì cũng phiền. Cho nên phải đến Hàng Bạc mà đổi. Hocquard, tác giả sách “Một chiến dịch ở Bắc Kỳ” viết năm 1886 có tả người đổi bạc: “Những người đổi bạc ngồi xếp bằng tròn trong cửa hàng, trước mặt là những xâu tiền và một chiếc rương sơn nhỏ coi như tủ két” (tr 177 bản in năm 1999, của NXB Arléa - Paris).

Nghề đúc bạc ở phố này chấm dứt vào đầu thế kỷ thứ 19, khi Gia Long dời đô vào Huế. Còn nghề đổi tiền kéo dài tới thời Pháp thuộc vì nhu cầu đổi lấy tiền lẻ hoặc tiền chẵn thời nào cũng có. Do vậy thực dân đã gọi phố này là phố những người đổi tiền (rue des Changeurs).

Nghề thứ ba, ở đây là nghề kim hoàn. Nghề này bao hàm ba nghề khác nhau : nghề chạm tức là chạm trổ những hình vẽ hoa văn trên các đồ vật trang sức hay đồ dùng bằng vàng bạc; nghề đậu tức là kéo vàng bạc đã nung chảy thành những sợi chỉ rồi chuyển thành những hình hoa, lá, chim muông gắn vào những đồ trang sức; nghề trơn tức là làm những đồ vàng bạc không cần chạm trổ, chỉ “cườm” cho nhẵn bóng trơn tru.

Thợ kim hoàn vốn là người làng Định Công thượng, nay thuộc quận Hoàng Mai. Thợ kim hoàn Định Công thượng ra Thăng Long cũng ở phố Hàng Bạc nhưng muộn hơn thợ Châu Khê, cho nên họ ở lan sang chỗ nay là phố Hàng Bồ.

Cũng làm nghề kim hoàn, còn có người làng Đồng Sâm (Kiến Xương, Thái Bình). Họ cũng làm nghề chạm, nghề đậu, nghề trơn nhưng dường như đã có sự phân công (không triệt để lắm) giữa hai làng kim hoàn này: Thợ Đồng Sâm chuyên về chạm trổ những mỹ phẩm lớn bằng bạc như lư, đỉnh, hộp trầu, khay chén, bát bạc, đĩa bạc... Còn thợ Định Công phần lớn làm các thứ nữ trang nhỏ nhắn như hoa tai, xuyến, hột vòng... Và dĩ nhiên người Châu Khê cũng làm cả kim hoàn. 


 
Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết

  Ý kiến bạn đọc

  Ẩn/Hiện ý kiến

Mã chống spam   

Những tin mới hơn

 

Những tin cũ hơn

Thời điểm thi THPT QG

Bạn muốn tổ chức thi thử vào THPT QG khi nào?

Top