Cao trào kháng Nhật cứu nước

 - Người đăng bài viết: nguyễn thị linh  - Chuyên mục :  Đã xem: 29 

Dạy tốt giới thiệu tới bạn đọc bài viết về Cao trào kháng Nhật cứu nước

 

Cao trào kháng Nhật cứu nước

1.Cao trào kháng Nhật cứu nước (9 – 3 – 1945 đến giữa tháng 8 – 1945).

   a. Hội nghị Ban thường vụ Trung ương Đảng mở rộng (9 -3 – 1945).

Từ cuối năm 1944, tình hình thế giới có những chuyển biến lớn. Cuộc chiến tranh thế giới thứ hai bước vào giai đoạn kết thúc. Hồng quân Liên Xô đánh đuổi quân phát xít Đức ra khỏi lãnh thổ của mình, giải phóng nhiều nước Trung, Đông Âu và trên đường tiến đến Béclin, hang ổ cuối cùng của bọn phát xít Hitle.

Ở Tây Âu, ngày 6 – 6 – 1944, quân Anh, Mỹ ở mặt trận thứ hai, đổ quân lên nước Pháp và tiến lên miền Tây nước Đức.

Ở châu Á – Thái Bình Dương quân đồng minh Anh, Mỹ, Trung Quốc giao chiến kịch liệt với quân Nhật ở Trung Quốc, Miến Điện, Ma-lai-xia, In-đô-nê-xia, Phi-lip-pin và trên biển Thái Bình Dương. Đường liên lạc, vận chuyển hậu cần, phương tiện chiến tranh bằng đường biển của quân Nhật bị đồng minh khống chế. Không quân đồng minh ném bom vào các thành phố, các vị trí quân Nhật chiếm đóng trên đất Đông Dương. Phong trào giải phóng dân tộc ở các nước Châu Á phát triển mạnh. Quân Nhật lâm vào tình thế khó khăn, nhung vẫn cố sức kéo dài cuộc chiến, hi vọng đảo ngược tình thế.

Ở Đông Dương bọn quân Pháp theo phái Đờ - Gôn do viên tướng về hưu Móoc-đăng (Mordant) cầm đầu, cũng ráo riết hoạt động, mưu đồ chiếm lại Đông Dương.

Quân Nhật biết rõ âm mưu và hành động của bọn thực dân Pháp nhưng chưa dám truất ngay quyền của Pháp ở Đông Dương vì biết rằng quân Pháp sẽ chống trả quyết liệt. Nhưng nếu xung đột xãy ra lúc này sẽ bất lợi cho chúng. Vì thế cả Pháp và Nhật đều kìm nén mâu thuẫn, tiếp tục hòa hoãn. Đảng ta nhận định “sự hòa hoãn” này có khác chi cái nhọt bọc, chứa chất bên trong biết bao nhiêu vi trùng và máu mủ, chỉ còn chờ dịp chín mõm là vỡ tung ra"[8,294] và “…cả hai quân thù của nhân dân ta là Nhật Pháp đang đóng một tấn kịch giả dối, vô cùng nguy hiểm cho chúng. Cả hai đều đang sửa soạn tiến tới chỗ tao sống mày chết, quyết liệt cùng nhau”[8,294].

Ngày 9 – 3 – 1945, “cái bọc nhọt” ấy đã vỡ tung ra khi tình thế ở Thái Bình Dương buộc” Nhật phải hạ Pháp để trừ cái họa bị Pháp đánh sau lưng khi đồng minh đổ bộ”[ 7;364.].

19 giờ ngày 9 – 3 – 1945, đại sứ Nhật ở Sài Gòn trao tối hậu thư cho toàn quyền Đông Dương Đơcu đòi Pháp trao tất cả quyền hành ở Đông Dương cho Nhật. Thư yêu cầu Pháp phải trả lời trước 21 giờ. Nhưng vào lúc 20 giờ 20 phút Nhật làm cuộc đảo chính lật Pháp lật Pháp trên toàn Đông Dương. Quân Nhật tấn công quân Pháp ở Hà Nội, Hải Phòng, Lạng Sơn, Bắc Ninh, Sơn Tây, Phú Thọ, Lào Cai, Nam Định, Xavanakhẹt, Thà Khẹt. 20 giờ 40 phút tấn công Sài Gòn. Ở một vài nơi quân Pháp kháng cự yếu ớt rồi bị tiêu diệt hoặc đầu hàng. Hơn 8 vạn quân Pháp tan rã, 1.662 tên bị giết và hàng ngàn quan chức, kiều dân Pháp ở Đông Dương bị cầm tù. Chỉ còn một số tàn quân Pháp chạy qua biên giới sang Trung Quốc. về sự kiện này, Hồ Chí Minh nhận xét: “ngày 9 – 3 năm nay, Nhật tước khí giới quân đội Pháp. Bọn thực dân Pháp hoặc là bỏ chạy hoặc là đầu hàng. Thế là chẳng những chúng không “bảo hộ” được ta, trái lại, trong 5 năm, chúng đã bán nước ta hai lần cho Nhật”[ 7;435.].

Sự biến 9 – 3 – 1945 là hệ quả tất yếu của cuộc khủng hoảng chính trị, kinh tế ở Đông Dương. Chính quyền thực dân Pháp tan rã, các võ quan Nhật thay thế các chức Toàn quyền, Thống sứ, Khâm sứ, Thống đốc mà trước đây người Pháp đảm nhiệm. Nhật muốn nhanh chống ổn định chính quyền từ Trung ương đến địa phương nhưng chúng không có đủ thì giờ làm việc đó. Bọn tay sai Nhật tranh giành nhau quyền lợi. Bọn thân Pháp do dự không dám cộng tác với Nhật, vì nếu một ngày kia Pháp quay trở lại thì chúng mất quyền lợi.

Quân Nhật vừa lo truy quét tàn quân Pháp, vừa lo đối phó với cuộc đổ bộ của quân đồng minh vào Đông Dương, vừa lo đối phó với cao trào cách mang rộng lớn của nhân dân. Tình thế đó không làm cho chính quyền Nhật ổn định và đứng vững lâu dài được.

Đối với phong trào cách mạng Đông Dương, cuộc đảo chính về mặt khách quan đã loại bớt được một kẻ thù là thực dân Pháp. Còn quân phiệt Nhật, tuy lực lượng còn nguyên vẹn và nhiều âm mưu xảo trá, nhưng thất bại của chúng ở Thái Bình Dương và Đông Dương chỉ còn là vấn đề thời gian.

Ngay trong đêm 9 – 3 – 1945, khi tiếng súng đảo chính vừa nổ, Hội nghị mở rộng Ban thường vụTrung ương củng bắt đầu họp tại làng Đình Bảng (Từ Sơn, Bắc Ninh) do Tổng bí thư Trường Chinh chủ trì. Tham dự Hội nghị có Trường Chinh, Hoàng Quốc Việt, Lê Thanh Nghị, Nguyễn Lương Bằng là các ủy viên thường vụ và Ủy viên Trung ương Đảng, một số đại biểu của xứ Ủy Bắc Kì.
Những nhận định về tình hình và chủ trương mới của đảng đề ra trong Hội nghị được tập trun gtrong bảng chỉ thị “Nhật – Pháp bắn nhau và hành động của chúng ta” ra ngày 12 – 3 – 1945.

Bảng chỉ thị phân tích 3 nguyên nhân chính dẫn đến cuộc đảo chính của Nhật ở Đông Dương là:

“1. Hai con chó đế quốc không thế ăn chung một miếng mồi béo bỡ như Đông Dương.
  2.Tàu Mỹ sắp đánh vào Đông Dương. Nhật phải hạ Pháp để trừ cái họa bị Pháp đánh sau lưng khi quân đồng minh đổ bộ.
  3. Sống chết Nhật phải giữ cái cầu trên con đường bộ nối liền các thuộc địa Nam Dương với Nhật; vì sao khi phi Luật Tân bị Mỹ chiếm, đường thủy của Nhật đã bị cắt đứt”[ 7;365.].

Chỉ thị xác định kẻ thù chính, cụ thể trước mắt của nhân dân Đông Dương sau đảo chính là phát xít Nhật. vì vậy khẩu hiệu “đánh đuổi phát xit Nhật” sẽ thay cho khẩu hiệu “đánh đuổi phát xít Pháp – Nhật”. để chống lại chính quyền do tay sai Nhật dựng lên, chỉ thị nêu khẩu hiệu “ Thành lập chính quyền cách mạng của nhân dân Đông Dương”.

Chỉ thị chủ trương “Phát động một cao trào kháng Nhật, cứu nước mạnh mẽ sẽ làm tiền đề cho cuộc Tổng khởi nghĩa”, thay đổi mọi hình thức tuyên truyền, cổ động, tổ chức và đấu tranh cho phù họp với thời kì tiền khởi nghĩa. Hình thức đấu tranh “có thể bao gồm từ hình thức bất họp tác, bãi công, bãi thị, phá phách cho đến những hình thức cao hơn như biểu tình, thị uy, vũ trang du kích… và sẵn sàng chuyển qua hình thức Tổng khởi nghĩa một khi đã đủ điều kiện”.

Tình hình ấy cho phép “gắn khẩu hiệu đòi cơm áo, chống thu thóc, thu thuế với khẩu hiệu chính quyền cách mạng của nhân dân”, “chuyển qua những hình thức đấu tranh cao hơn: tổng biểu tình tuần hành, bãi công chính trị, mít tinh công khai, bãi khóa, bãi thị, bất họp tác với Nhật về mọi phương tiện”, “huy động đội tự vệ tước vũ khí của binh lính (Pháp) bại trận”, “phát động du kích ở những nơi có địa hình, địa thế”, “thành lập Ủy ban dân tộc giải phóng ở các nhà máy, hầm mỏ, làng ấp, đường phố, trại lính…, thành lập Ủy ban nhân dân cách mạng Việt Nam”.

Chỉ thị nhận định: điều kiện Tổng khởi nghĩa đã có nhưng chưa thật chín muồi. Nhưng những cơ hội tốt giúp cho những điều kiện Tổng khởi nghĩa sẽ chín muồi nhanh chống. Đó là chính trị ngày càng khủng hoảng trầm trọng, phát xít Nhật không rảnh tay đối phó với cao trào cách mạng của nhân dân ta. Nạn đói diễn ra từ cưối năm 1944 đang trầm trọng và sẽ gây ra nhiều tay họa khủng khiếp càng làm cho nhân dân ta căm thù giặc Nhật. chiến tranh đến giai đoạn quyết liệt, quân đồng minh sẽ vào Đông Dương đánh Nhật. Đảng dự kiến hai trường hợp cho Tổng khởi nghĩa nổ ra. Thứ nhất, khi quân đồng minh vào bám chắc địch ở Đông Dương, quân Nhật đem quân ra đánh đồng minh thì đấy là thời điểm phát động khổi nghĩa. Thứ hai, cách mạng Nhật bùng nổ lập chính quyền cách mạng của nhân dân, hay giặc Nhật mất nước như Pháp hồi năm 1940, Nhật đầu hàng, quân đội của chúng ở Đông Dương mất tinh thần, khi ấy, dù cho quân đồng minh chưa vào Đông Dương, Đảng cũng phát động nhân dân khởi nghĩa giành chính quyền [7; 365- 367].
Chỉ thị của Đảng cũng nêu không chờ cả hai trường hợp ấy xuất hiện đồng thời rồi mới hành động. Vì như thế là ỷ lại vào quân đồng minh và tự bó tay mình trong khi tình thế chuyển biến thuận lợi. Như vậy, dự kiến quân Nhật đầu hàng là trường hợp quan trọng hơn cả.

Tư tưởng chủ động của Đảng trong chỉ thị là “phải hành động ngay, hành động cương quyết, nhanh chống, sáng tạo, củ động, táo bạo”. Chỉ thị là kim chỉ nam cho mọi hành động của Đảng, Việt Minh và nhân dân trong cao trào kháng Nhật và bọn tay sai.


b.Khởi nghĩa từng phần.

Sau Hội nghị Ban thường vụ Trung ương Đảng, chỉ thị “Nhật – Pháp bắn nhau và hành động của chúng ta” và truyền đơn in khẩu hiệu của Việt Minh được phổ biến và chuyển tới nhiều vùng trong nước như Bắc Giang, Phổ Yên, Hiệp Hòa, Tiên Du, vào các tỉnh miền trung, Sài gòn, Nam bộ…, từ đó, cách mạng Việt Nam tiến lên cao trào kháng Nhật cứu nước, đấu tranh chính trị kết hợp với đấu tranh vũ trang, tiến hành chiến tranh du kích cục bộ, khởi nghĩa từng phần, giành cính quyền từng bộ phận.

Tại căn cứ Việt bắc, liên tình ủy Cao – Bắc – Lạng quyết định khỏi nghĩa giành chính quyền ở những nơi đã đủ điều kiện. Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân và cứu quốc quân phối hợp với nhân dân nổi dậy. hàng loạt các xã, tỉnh, châu thuộc các tỉnh Cao Bằng, Bắc Cạn, Lạng Sơn, Thái Nguyên, Tuyên Quang, nhân dân đã giành được chính quyền.

Ở Bắc Giang nhiều xã thuộc vùng Thượng Yên Thế, Hữu Lũng, Bố Hạ, Hòa Hiệp…, quần chúng nổi dậy biểu tình thị uy, vũ trang, lập Ủy ban giải phóng. Hàng ngàn quần chúng kéo đi tước vũ khí của lính đồn. nhiều tri huyện, tri phủ bỏ chạy. toàn bộ huyện Hiệp Hòa, một phần Yên Thế,Phú Bình được giải phóng.

Tại Bắc Ninh, sau đêm Nhật đảo chính Pháp, chi bộ Đảng xã Trung Màu (Tiên Du) lãnh đạo nhân dân khởi nghĩa lập chính quyền cách mạng ở hai xã Trung Màu và Dương Hút. Trong tình hình ấy, tỉnh ủy Bắc Ninh chủ trương đẩy mạnh công tác tuyên truyền đưa phong trào quần chúng tiến lên.vì vậy chỉ trong tháng 3 và tháng 4, số hội viện Việt Minh trong tỉnh đã tăng lên hàng vạn người.

Tại Hưng Yên, đêm 11 - 3 – 1945, đội tự vệ chiến đấu địa phương đã đánh đồn Bần Yên Nhân thu toàn bộ vũ khí.

Hàng ngàn đảng viên, cán bộ cách mạng khác đang bị giam trong các nhà tù Nghĩa Lộ, Sơn La, Hỏa Lò (Hà Nội), Buôn Ma Thuột, Hội An (Quảng Nam)…nhân cơ hội Nhật – Pháp bắn nhau đã đấu tranh đòi tự do, hoặc nổi dậy phá nhà giam , vượt ngục ra ngoài hoạt động đó là nguồn bổ sung cán bộ quan trọng cho cách mạng, là một trong những nhân tố thúc đẩy cao trào tiền khởi nghĩa.

Các tỉnh miền Trung cũng tích cực chuẩn bị khởi nghĩa theo chủ trương của Đảng. Nhưng ở vào thời điểm này, khởi nghĩa từng phần mới kịp thời ở Quãng Ngãi.

Ở Quãng Ngãi, ngày 11 – 3 – 1945, những Đảng viên, cán bộ cách mạng đang bị giam trong trại tập trung Ba Tơ, khi nghe tin Nhật đỏa chính Pháp, đã phá trại giam, lấy súng địch diệt địch, thành lập đội du kích Ba Tơ. Đây là đội du kích đầu tiên của miền Trung do Đảng tổ chức, lãnh đạo, trở thành lực lượng nòng cốt trong cuộc khởi nghĩa giành chính quyền ở Quảng Ngãi và ở những tỉnh khác của miền Trung Nam Kì.

Ở Nam Kì, trong tháng 3 và tháng 4, chỉ thị của Trung ương chưa đến được Nam Kì, nhưng một số địa phương có phong trào mạnh từ trước cũng có những hình thức đấu tranh chống những tên quận trưởng, tỉnh trưởng gian ác, như ở Mỹ Tho.


c. Phong trào phá kho thóc cứu đói.

Khi phong trào khởi nghĩa từng phần lên cao, cũng là lúc Bắc Kì, bắc Trung Kì, diễn ra nạn đói trầm trọng do chính sách vơ vét, tích trữ lương thực của Nhật – Pháp. Để giải quyết nạn đói và thúc đẩy phong trào cách mạng đi lên, Hội nghị Ban thường vụ Trung ương tháng 3 – 1945 đề ra khẩu hiệu “phá kho thóc, giải quyết nạn đói”.

Khẩu hiệu này đưa ra giữa lúc nạn đói khủng khiếp đang diễn ra ở Bắc Kì và bắc Trung Kì,đáp ứng nguyện vọng cấp bách nhất của quần chúng, do đó, đã thổi bùng ngọn lửa căm thù trong đông đảo nhân dân, và phát động quần chúng vùng dậy với khí thế cách mạng hừng hực tiến tới khởi nghĩa giành chính quyền, “một khẩu hiệu sát đúng với tình hình cụ thể có sức dấy lên cả một phong trào”.

Ở Bắc Giang, Bắc Ninh, hàng ngàn quần chúng đi phá kho thóc của Nhật, Pháp; Hiệp Hòa, Tiên Du, Yên Phong, Thuận Thành, thu hàng ngàn tấn thóc chia cho dân. ở Vĩnh Yên, Phúc Yên, hàng chục kho thóc bị phá. Ở Phú Thọ trong một thời gian ngắn 14 kho thóc bị phá.

Ở Ninh Bình, ngày 15 – 3 quần chúng các quyện Nho Quan, Gia Viễn đã phá 12 kho thóc, thu hàng trăm tấn thóc chia co dân nghèo.

Ở Thái Bình, trong tháng 3 và tháng 4, nhân dân các huyện Phụ Dực, Thư Trì, Tiền Hải, Vũ Tiên, Tiên Hưng đã thu 1.000 tấn thóc chia cho dân.

Ở Hải Dương, nhân dân phá 39 kho thóc và lấy 43 thuyền gạo với 2.000 tấn. Riêng các huyện phía nam tỉnh đã phá 26 kho thóc, thu 26 thuyền với hơn 1.000 tấn gạo.

Ở Hưng Yên, Hòn Gai, Hà Đông, Sơn Tây nhân dân phá kho thóc, gạo của Nhật.

Ở ngoại thành Hà Nội, nhân dân tiến hành phá các kho thóc, gạo của Nhật ở phố Bắc Ninh, phố Lê Lợi, Phà Đen thu hàng trăm tấn.

Ở các tỉnh Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình cũng diễn ra nhiều cuộc phá kho thóc, cứu đói.

Phong trào phá kho thóc, cứu đói dưới sự lãnh đạo của Đảng là một trong những hình thức tập dượt quần chúng đấu tranh từ thấp đến cao, kết hợp đấu tranh kinh tế, chính trị, vũ trang, chuẩn bị cho Tổng khởi nghĩa.

d.Phong trào đấu tranh ở thành thị và các khu công nghiệp.

Phong trào đấu tranh ở thành thị thu hút đông đảo công nhân, các tầng lớp nhân dân lao động, thanh niên, học sinh …tham gia.

Trong phong trào phá kho thóc, cứu đói, công nhân và dân nghèo Hà Nội cùng đi phá các kho thóc của Nhật. công nhân bến cảng Hải Phòng bí mật đốt phá các kho lương thực ở bến Sáu Kho, cho nhân dân vào lấy gạo. Công nhân mỏ Đông Triều chặn bắt tàu thuyền chở gạo của Nhật, công nhân Sài gòn quyên góp gạo, tiền gửi ra bắc giúp đồng bào cứu đói.

Phong trào công nhân đấu tranh tiến lên hình thức cao hơn, như phá hoại kế hoạch địch, chế tạo vũ khí ,lấy súng, đạn của địch cung cấp cho bộ đội du kích ở các chiến khu. Công nhân Hà Nội tổ chức lấy súng của Nhật ở phà đen, ngọc hà. ở Quảng yên, công nhân khởi nghĩa chiếm mỏ Mạo Khê, Tràng Bạch, Uông bí. ở các thành phố lớn như Hà Nội, Huế, Sài Gòn, công nhân tuyên truyền gây thanh thế cho Việt Minh. Những hoạt động treo cờ diễn thuyết ở chỗ đông người, các rạp hát, trường học, ngã 3 đường trên tàu điện diễn ra ở Hà Nội.

Ở Hà Nội, học sinh thanh niên bất hợp tác với Nhật, không học tiếng của Nhật, tổ chức những cuộc mít tinh, tuyên truyền tinh thần yêu nước tại Mễ Trì, chợ Canh, Láng.

Thanh niên tổ chức tuyên truyền xung phong tại các trường Gia Long, kĩ nghệ thực hành. Đông đảo giáo viên, học sinh đã hưởng ứng phong trào Việt Minh.
Ở Sài gòn và các tỉnh Nam bộ , từ tháng 5- 1945 xuất hiện phong trào thanh niên tiền phong. Dưới hình thức hoạt động công khgai hợp Pháp,tổ chức, tập hợp, rèn luyện quần chúng yêu nước, cách mạng chuẩn bị đón thời cơ khởi nghĩa. Chỉ vài tháng sau, ở Sài gòn, Nam bộ, có hàng cục vạn người tham gia tổ chức Thanh niên tiền phong. Đến ngày 22 – 8 – 1945, Thanh niên tiền phong ra tuyên bố đứng trong mặt trận Việt Minh và trở thành một lực lượng quan trọng trong những ngày Tổng khởi nghĩa giành chính quyền ở Sài Gòn và nam bộ.

Ở Huế, tại trường Quốc học, thanh niên tiền tuyến, do chính phủ Trần Trọng Kim lập; những sinh viên yêu nước tham gia tổ chức Việt Minh để thu hút học sinh vào đoàn thể cứu quốc.

Phong trào cách mạng ở thành thị, cuẩn bị điều kiện cho cuộc khởi nghĩa ở thành phố thắng lợi


e.Hội nghị quân sự cách mạng Bắc Kì.

Để đẩy mạnh hơn nữa công cuộc chuẩn bị khởi nghĩa vũ trang, Trung ương Đảng đã triệu tập Hội nghị quân sự cách mạng Bắc Kì. Hội nghị họp từ ngày 15 đến 20 – 4 – 1945 tại huyện Hưng Hóa (Bắc Giang), do Trường Chinh, Tổng bí thư của Đảng chủ trì. Tham dự Hội nghị có đại diện các chiến khu ở Việt Bắc, xứ ủy Bắc Kì.

Hội nghị nhận định: “Tình thế đã đặt nhiệm vụ quân sự lên trên tất cả các nhiệm vụ quan trọng và cần kíp trong lúc này”[ 7;391]

Chúng ta đang ở vào giai đoạn chiến lược “phát động du kích” để chuẩn bị phát động Tổng khởi nghĩa.

Hội nghị quyết định phát triển lực lượng vũ trang và nữa vũ trang, thống nhất các lực lượng vũ trang thành Việt Nam giải phóng quân, xây dựng 7 chiến khu chống Nhật trong cả nước: chiến khu Lê lợi, Quang Trung, Hoàng Hoa Thám, Trần Hưng Đạo, Trưng Trắc, Phan Đình Phùng (trung bộ) và Nguyễn Tri Phương (nam bộ).

Hội nghị cử ra Ủy ban quân sự cách mạng gồm Võ Nguyên Giáp, Văn Tiến Dũng, Lê Thanh Nghị, Trần Đăng Ninh, Chu Văn Tấn. Ủy ban này chỉ huy các chiến khu miền Bắc Đông Dương, “đồng thời có nhiệm vụ giúp đỡ cho toàn quốc về mặt quân sự”[ 7;394].

Ngày 16 – 4 – 1945, tổng bộ Việt Minh ra chỉ thị về viêc tổ chức ban dân tộc giải phóng các cấp, lập Ủy ban dân tộc giải phóng Việt Nam và địa phương.
Đến tháng 5 – 1945, Hồ Chí Minh quyết định về chiến khu Hoàng hoa Thám và chọn Tân Trào (Sơn Dương – Tuyên Quang) làm đại bản doanh chỉ đạo phong trào cả nước.

Ngày 15 – 5 – 1945, lễ thành lập Việt Nam giải phóng quân được tổ chức tại Định Hóa – Thái Nguyên.

Ngày 4 – 6 – 1945, tổng bộ Việt Minh triệu tập Hội nghị tuyên bố thành lập khu giải phóng, bao gồm các tỉnh Cao – Bắc – Lạng – Hà – Tuyên – Thái và một số vùng thuộc tỉnh Bắc Giang, Phú Thọ, Yên Bái, Vĩnh Yên. Khu giải phóng đặt dưới sự lãnh đạo của Ủy ban chỉ huy lâm thời. khu giải phóng thực hiện 10 chính sách lớn của Việt Minh. Đó là hình ảnh thu nhỏ của nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa.

Ngoài các chiến khu do Trung ương và Xứ ủy chủ trương thành lập, nhiều tỉnh, huyện cũng xây dựng những khu căn cứ riêng của địa phương, như Yên Thế (Bắc Giang), Lập Trạch (Vĩnh Yên), Bãi Sậy (Hưng Yên), Trầm Lộng (Hà Đông), Cẩm Xuyên (Hà Tĩnh), Tam Kì, Quốc Sơn, Tiên Phước (Quảng Nam), Đá Trắng, Sông Quao (Ninh Thuận)…


2.Tổng khởi nghĩa tháng Tám 1945.

cmtt_1945_500_01
 
  Lược đồ cách mạng tháng Tám 1945


*Thời cơ Tổng khởi nghĩa đã đến:

Sau khi phát xít Đức đầu hàng (5 – 1945), quân đồng minh tiến hành phản công trên mặt trận Châu Á – Thái Bình Dương. Ngày 6 – 8 – 1945, Mỹ ném bom nguyên tử xuống thành phố Hirôsima. Ngày 8 – 8 – 1945, Liên Xô tuyên chiến với Nhật Bản. Ngày 9 – 5, Mỹ ném quả bom nguyên tử thứ hai xuống thành phố Nagasaki, làm chết hàng chục vạn dân thường. cũng trong ngày này, với một lực lượng hùng hậu, Hồng quân Liên Xô mở cuộc tổng công kích vào đạo quân Quan Đông của Nhật ở Đông Bắc Trung Quốc.
Ngày 14 – 8 – 1945, nhận được tin Nhật đầu hàng (13/ 08 Nhật Hoàng tuyên bố trên các làn sóng phát thanh của Nhật).

Sự đầu hàng của Chính Phủ Nhật đã đẩy quân Nhật đang chiếm đóng ở Đông Dương vào tình thế tuyệt vọng như rắn mất đầu, hoang mang, dao động đến cực độ. Chính phủ Trần Trọng Kim rệu rã. Tin Nhật đầu hàng đã nhanh chống lan truyền trong Nhân dân. Khắp nơi trên đất nước ta , Việt Minh tổ chức những cuộc mít tinh, biểu tình thị uy vũ trang, có tới hàng nghìn ngừơi tham gia. Hàng triệu quần chúng sẵn sàng đứng lên giành chính quyền. Các tầng lớp trung gian đã ngã hẳn về phía cách mạng. Nhiều lính trong quân đội phát xit và lính bảo an, cảnh sát các quan chức trong chính quyền bù nhìn ủng hộ Việt Minh giành độc lập. thời cơ để nhân dân giành chính quyền đã tới.

Tuy nhiên, bên cạnh những thuận lợi to lớn, cách mạng đứng trước những khó khăn không nhỏ. Mặc dù chính phủ Nhật đã đầu hàng đồng minh nhưng mãi đến 21 – 8, quân Nhật ở Đông Dương mới được lệnh ngừng bắn. vì thế quân Nhật ở Hà Nội vẫn đi tuần, canh gác nghiêm ngặt. ngày 16 – 8, Nhật tuyên bố trao trả Nam Kì cho chính phủ bù nhìn và ngày 18 – 8, bày trò “trao trả độc lập cho Việt Nam”. Các tổ chức phản động cũng tìm cách cản phá phong trào cách mạng của nhân dân ta.

Trong khi đó, các thế lực đế quốc như Mỹ, Anh, Pháp, Trung Hoa quốc dân Đảng cũng có mưu đồ riêng đối với Đông Dương. Chính phủ Trùng Khánh ráo tiết chuẩn bị “Hoa quân nhập Việt” và ngày 9 – 8 – 1945, ra thông báo về việc sẽ đưa quân vào giải phóng quân đội Nhật ở Bắc Đông Dương.

Từ tháng 5 – 1945, thực dân Pháp đẩy mạnh việc thành lập đạo quân viễn chinh Pháp ở Đông Dương, tăng cường hoạt động ngoại giao để Anh , Mỹ thừa nhận quyền trở lại Đông Dương của Pháp.

Các đảng phái phản động lưu vong của Trung Quốc, như Việt Nam, Quốc dân đảng, Việt Nam cách mạng đồng minh hội cũng chuẩn bị núp bóng quân đội Tưởng về nước cướp chính quyền.

Trước những chuyển biến mau lẹ của tình hình thế giới và trong nước, ngày 12 – 8 – 1945, Ủy ban chỉ huy lâm thời khu giải phóng ra mệnh lệnh khởi nghĩa. Ngày 13 – 8, Trung ương đảng và Tổng bộ Việt Minh đã thành lập Ủy ban khởi nghĩa toàn quốc. Ủy ban gồm 5 người: Trường Chinh, Võ Nguyên Giáp, Lê Thanh Nghị, Trần Đăng Ninh, Chu Văn Tấn. Tổng bí thư Trường Chinh trực tiếp phụ trách Ủy ban.

23 giờ cùng ngày, Ủy ban khởi nghĩa toàn quốc đã ban bố quân lệnh số một, chính thức phát lệnh khởi nghĩa toàn quốc.

“Giờ Tổng khởi nghĩa đã đến!

Cơ hội có một cho quân dân Việt Nam vùng dậy giành lấy quyền độc lập của nước nhà!

Chúng ta phải hành động cho nhanh, với một tinh thần vô cùng quả cảm, vô cùng thận trọng.

Cuộc thắng lợi hoàn tất nhất định sẽ về ta”.[ 7;421-422]

Ngày 14 và 15 – 8 – 1945, Hội nghị toàn quốc của Đảng Cộng Sản Đông Dương họp tại Tân Trào (Sơn Dương, Tuyên Quang). Tham dự hội ngị có các đảng bộ địa phương, đại biểu của khu giải phóng và các chiến khu.

Hội nghị nhận định:

2.“Nhân dân Đông Dương cực khổ, căm tức, cách mạng hóa; đến tất cả một phần quan lại cũng ngã về phe cách mạng.

4. Nhật đổ, hàng ngũ chỉ huy của chúng ở Đông Dương chia rẽ đến cực điểm; quân lính Nhật tan rã, mất tinh thần, bọn Việt gian thân Nhật hoảng sợ.

6. Toàn dân tộc đang sôi nổi chờ giờ khởi nghĩa,giành quyền độc lập.
7. Những điều kiện khởi nghĩa như đã chín muồi”[ 7;424]

Hội nghị quyết định phát động toàn dân khởi nghĩa giành chính quyền trước khi quân Anh, Trung Hoa Quốc dân đảng vào Đông Dương tước khí giới quân Nhật và khi thực dân Pháp chưa kịp tập hợp tàn quân, điều lực lượng vào xâm lược nước ta một lần nữa. Hội nghị đề ra 3 nguyên tắc để chỉ đạo khởi nghĩa là tập trung, thống nhất, kịp thời và nêu phương châm hành động trong khởi nghĩa là phải đánh chiếm ngay những nơi chắc thắng không kể thành thị hay nông thôn, phải phối hợp chặt chẽ chính trị và quân sự, phải thành lập chính quyền cách mạng ở những nơi đã giành quyền làm chủ.

Hội nghị quyết định chính sách đối nội, đối ngoại sau khi giành chính quyến. về đối nội, thi hành 10 chính sách của việt minh. Về đối ngoại, chính sách ngoại giao đưa theo nguyên tắc “thêm bạn, bớt thù” đảm bảo giành và giữ nền độc lập; phải tránh trường hợp một mình đối phó với nhiều lực lượng đồng minh (Trung Quốc, Pháp, Anh, Mỹ) tràn vào nước ta và đặt chính phủ Đờ - Gôn hay một chính phủ bù nhìn khái trái với ý nguyện dân tộc, triệt để lợi dụng mâu thuẩn giữa hai khối đế quốc Anh – Pháp và Mỹ - Tưởng vào Đông Dương, hết sức tránh trường hợp một mình phải đối phó với nhiều kẻ thù trong cùng một lúc; tranh thủ sự đồng tình của liên xô, của nhân dân Pháp, nhân dân Trung Quốc và của loài người tiến bộ.

Trong khi đề cao viêc tranh thủ Đồng minh, Hội nghị nhấn mạnh khâu mấu chốt giành thắng lợi của cách mạng là “Dù sao chỉ có thực lực của ta mới quyết định được sự thắng lợi giữa ta và Đồng minh”[ 7;427].

Hội nghị toàn quốc của Đảng vừa kết thúc, Đại hội Quốc dân cũng được tiến hành tại Tân Trào (Tuyên Quang) vào ngày 16 và 17 tháng 8 – 1945. Hơn 60 đại biểu ở Bắc, Trung, Nam, đại biểu kiều bào ở nước ngoài, đại biểu các đảng phái, các đoàn thể, tôn giáo đã dự Đại hội. Đại hội tán thành và ủng hộ chủ trương Tổng khởi nghĩa của Đảng, thông qua 10 chính sách của mặt trận Việt Minh. Đại hội quyết định thành lập Ủy ban Giải phóng dân tộc Việt Nam do Hồ Chí Minh làm chủ tịch; quýêt định lấy lá cờ đỏ sao vàng năm cánh làm Quốc kì, lấy bài hát tiến quân ca làm Quốc ca.

Sáng ngày 17 – 8, Ủy ban Giải phóng dân tộc ra mắt quốc dân tại đình Tân Trào. Chủ tịch Hồ Chí Minh thay mặt Ủy ban giải phóng dân tộc đọc lời tuyên thệ.

Đại hội Quốc dân bế mạc, Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi thư kêu gọi đồng bào cả nước đứng lên khởi nghĩa giành chính quyền: “giờ quyết định cho vận mệnh dân tộc ta đã đến. Toàn quốc đồng bào hãy đứng dậy đem, sức ta mà tự giải phóng cho ta.

Nhiều dân tộc bị áp bức trên thế giới đang ganh nhau tiến bước giành quyền độc lập. chúng ta không thể chậm trễ.

Tiến lên! Tiến lên! Dưới lá cờ Việt Minh, đồng bào hãy dũng cảm tiến lên”[ 7;418].
 tan_tro.

Đình Tân Trào, Sơn Dương (Tuyên Quang) nơi diễn ra Đại hội Quốc dân cử ra Ủy ban Dân tộc Giải phóng Việt Nam (tức chính phủ Lâm thời nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa), ngày 16-8-1945

*Tổng khởi nghĩa giành chính quyền:

Lệnh Tổng khởi nghĩa của Ủy ban khởi nghĩa toàn quốc và lời kêu gọi của Chủ tịch Hồ Chí Minh được chuyển đến các tổ chức Đảng và Việt Minh, chiến sĩ và đồng bào.

Tuy nhiên, do tình hình phức tạp lúc bấy giờ và những khó khăn về giao thông, thông tin, liên lạc, Lệnh Tổng khởi nghĩa của Trung ương đến một số nơi bị chậm hoặc không đến đựơc. Nhưng ở những nơi ấy, tổ chức Đảng và Việt Minh, do thấm nhuần các chỉ thị, nghị quyết của Trung ương trước đó, nhất là chỉ thị “Nhật – Pháp bắn nhau và hành động của chúng ta”, đã căn cứ vào tình hình thực tế ở địa phương, kịp thời phát động quần chúng khởi nghĩa.
Từ ngày 14 – 8, các xã, huyện vùng nông thôn của hầu hết các tỉnh ở châu thổ sông Hồng, các tỉnh ở Trung Kì đã lần lượt nổi dậy giành chính quyền.

Ngày 14 – 8, nhân dân Quảng Ngãi khởi nghĩa thắng lợi ở hầu hết các địa phương trong tỉnh.

Ngày 16 – 8, một đơn vị quân giải phóng tiến công thị xã Thái Nguyên.

Ngày 17 – 8, một số vùng ngoại ô Hà Nội đã khởi nghĩa thắng lợi.

Ngày 18 – 8, các tỉnh Bắc Giang, Hải Dương, Hà Tĩnh, Quảng Nam khởi nghĩa thành công ở tỉnh lị.

Ở Hà Nội, xứ ủy Bắc Kì phân công một số ủy viên trực tiếp lãnh đạo khởi nghĩa ở Hà Nội. theo nghị quyết cuộc họp ngày 15 – 8 – 1945, Ủy ban quân sự cách mạng Hà Nội (tức Ủy ban khởi nghĩa Hà Nội) được thành lập ngày 16 – 8.

Được biết Tổng hội viên chức sẽ tổ chức một cuộc mít tinh lớn vào chiều ngày 17 – 8 tại nhà hát lớn để ủng hộ chính phủ bù nhìn, Đảng bộ và Ủy ban khởi nghĩa quyết định biến cuộc mít tinh đó thành cuộc mít tinh của quần chúng ủng hộ cách mạng.

Chiều ngày 17 – 8, đông đảo các tổ chức cứu quốc ở Hà Nội, ngoại thành, cùng tự vệ chiến đấu, tuyên truyền xung phong được huy động đến Quãng trường nhà hát thành phố. Cuộc mít tinh bắt đầu, đại biểu Việt Minh chiếm diễn đàn,diễ thuyết kêu gọi nhân dân khởi nghĩa. Hàng vạn quần chúng hưởngứng lời kêu gọi của Việt Minh. Nhiều lính bảo an, cảnh sát ngả theo cách mạng.

Sau đó, cuộc mít tinh biến thành cuộc biểu tình tuần hành của quần chúng, diễn ra qua các đường phố chính của Hà Nội, quần chúng biểu tình hô vang khẩu hiệu “Đả đảo bù nhìn”, “Ủng hộ Việt Minh”, “Việt Nam hoàn toàn độc lập”.

Qua cuộc biểu dương lực lượng ngày 17 – 8, thành ủy Hà Nội có đủ cơ sở để đi đến quyết định khởi nghĩa vũ trang giành chính quyền ở Hà Nội vào ngày 19 – 8 – 1945.

Ngày 18 – 8, cờ đỏ sao vàng được treo lên một số đường phố Hà Nội.

Sáng ngày 19 – 8, hàng chục vạn quần chúng cách mạng nội và ngoại thành mang theo gậy, dao, mã tấu…, rầm rập tiến về Quảng trường Nhà hát thành phố tham dự cuộc mít tinh do Việt Minh tổ chức cuộc mít - tinh bắt đầu lúc 11 giờ.

Sau loạt súng chào cờ và bài tiến quân ca vang lên, đại biểu Ủy ban quân sự cách mạng đọc lời hiệu triệu khởi nghĩa của Việt Minh. Cuộc mít tinh nhanh chống chuyển thành cuộc biểu tình tuần hành vũ trang. Quần chúng biểu tình chia thành nhiều đoàn tiến về cá ngả đường, chiếm các cơ quan của chính quyền bù nhìn, như phủ khâm sai, Tòa thị chính, Sở cảnh sát, trại Bảo an binh…Quân Nhật án binh bất động. Binh lính và cảnh sát ngụy cũng bất lực. Chính quyền hoàn toàn về tay nhân dân.

Thắng lợi của cuộc khởi nghĩa ở Hà Nội đã cổ vũ mạnh mẽ nhân dân cả nước gấp rút nổi dậy giành chính quyền,. cùng ngày khởi nghĩa với Hà Nội và giành được chính quyền là các tỉnh Thái Bình, Khánh Hòa.

Ngày 20 – 8: Thái Nguyên, Yên Bái, Bắc Ninh, Sơn Tây, Ninh Bình, Thanh Hóa.

Nhày 21 – 8: Bắc Cạn, Tuyên quang, Phúc yên, Nam Định, Nghệ An, Ninh Thuận.

Ngày 22 – 8: Cao Bằng, Kiến An, Hưng yên, Tân An, Hải phòng.

Ngày 23 – 8: nhân dân Thừa Thiên - Huế nổi dậy giành chính quyền. Huế là nơi đóng đô của triều đình phong kiến nhà nguyễn, là trung tâm chính trị của đất nước. Vì vậy, Huế có vị trí rất quan trọng trong cuộ Tổng khởi nghĩa của cả nước.

Ngày 20 – 8, Ủy ban khởi nghãi tỉnh được thành lập. sáng ngày 23 – 8, Kinh đô Huế tràn ngập cờ đỏ sao vàng, khoảng 15 vạn nhân dân Huế và các phủ, huyện ngoại thành biểu tình chật nít các ngả đường, các khu phố, chiếm các cơ sở của chính quyền địch, rồi tập trung tại sân vận động thành phố dự mít tinh. Tại đây, Ủy ban Việt Minh và Ủy ban khởi nghĩa tỉnh tuyên bố xóa bỏ chính quyền bù nhìn, lập chính quyền cách mạng.

Hồi 16 giờ ngày 30 – 8, hàng vạn nhân dân Huế tập trung ở Ngọ Môn chứng kiến một sự kiện lịch sử: Vua Bảo Đại thoái vị. Đại diện chính phủ lâm thời nước Việt Nam dân chủ cộng hòa nhận ấn, kiếm do Bảo Đại trao và tuyên bố xóa bỏ chế độ quân chủ trên đất nứơc ta, công bố chính sách của nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa. Khởi nghĩa thằng lợi ở Huế đã động viên, cổ vũ, tạo thêm sức mạnh tinh thần cho nhân dân các tỉnh Nam Trung Kì và Nam Kì vùng lên.

Cùng ngày khởi nghĩa với Thừa Thiên – Huế, một số tỉnh khác cũng khởi nghĩa và giành chính quyến, như Hà Đông, Hòa Bình, Quảng Bình, Quảng Trị, Lâm Viên, Bạc Liêu, Gia Lai.

Ngày 24 – 8 nhân dân các tỉnh Hà Nam, Phú yên, Đắc Lắc, Gò Công, Quảng Yên đã khỏi nghĩ giành chính quyền.

Ngày 25 – 8, khởi nghĩa thành công ở Lạng Sơn, Sơn La, Phú Thọ, Sài Gòn, Chợ Lớn, Gia Định, Bà Rịa, Trà Vinh, Sóc Trăng, Vĩnh Long, Bến Tre, Bình Thuận, Thủ Dầu Một, Sa Đéc, Mỹ Tho, Tây Ninh, Long Xuyên.

Sài Gòn là một trong 3 địa bàn ciến lược quan trọng bậc nhất của đất nước, là thủ phủ của Nam Kì thuộc Pháp, là nơi đặt đại bản doanh của quân Nhật đóng trên toàn bộ Đông Nam Á. Khi Nhật tuyên bố đầu hàng Đồng minh vô điều kiện, ngay tối ngày 15/8/1945, Ủy ban Kháng chiến Nam Bộ được thành lập do ban Bí thư xứ ủy Trần Văn Giàu làm Chủ tịch. Đến ngày 24 tháng những công sở trong thành phố đều do ta làm chủ ngày 24/8. Đặc biệt dinh Khâm sai (nay là Bảo tàng Thành phố Hồ Chí Minh) là nơi đầu tiên ở Sài Gòn, cờ quẻ ly bị hạ xuống, cờ đỏ sao vàng được kéo lên, tung bay trong không khí thắng lợi.

Rạng sáng ngày 25 – 8, các đường phố Sài Gòn tràn ngập biển cờ, biểu ngữ, tiếng hô khẩu hiệu quyết tâm bảo vệ nền độc lập, tự do vang dội trong thành phố. Cuộc biểu tình tuần hành của quần chúng biểu dương lực lượng, bắt đầu từ Nhà thờ Đức Bà, qua các đường phố Ca-ti-na, Ben-gich-cơ, Kit-sơ-nê, Bô-na rồi hội tụ trước dinh Đốc lí thành phố ( vừa chuyển thành trụ sở Ủy ban hành chính lâm tời Nam Bộ). Từ trên bao lơn Thị Sảnh, đại diện Việt Minh Nam Bộ đọc danh sách Ủy ban hành chính lâm thời Nam Bộ. Tiếp đó, đại diện xứ ủy Nam Kì đọc lời kêu gọi nhân dân ủng hộ, bảo vệ cách mạng. Đại diện tổng công đoàn Nam Bộ đọc lời hứa của giai cấp công nhân, nhân dân lao động, cùng toàn thể nông dân quyết giữ vững chính quyền cách mạng. Cuộc khởi nghĩa giành chính quyền ở Sài Gòn kết thúc bằng một cuộc tuần hành khổng lồ chưa từng thấy.

Thắng lợi của cuộc khởi nghĩa ở Sài gòn làm rung chuyển cả vùng nông thôn Nam Bộ, cổ vũ nhân dân Nam Bộ vùng lên. Tiếp đó là khởi nghĩa thắng lợi ở các tỉnh:

Ngày 26 – 8: Cần thơ, Châu Đốc, Biên Hòa.

Ngày 27 – 8: Rạch giá.

Ngày 28 – 8: Đồng Nai Thượng, Hà Tiên.

Ở côn Đảo, khi nhận được tin Tổng khởi nghĩa trong cả nước, Đảng bộ nhà tù côn Đảo lãnh đạo các chiến sĩ cách mạng bị giam cầm nổi dậy giành chính quyền, làm chủ toàn đảo. Giữa tháng 9 – 1945, các chiến sĩ cách mạng được đưa về đất liền, tăng cừơng cho các Đảng Bộ miền Nam.

Một số thị xã do lực lượng Trung Hoa Quốc dân Đảng và tay sai chiếm giữ từ trước, như Hải Ninh (nay thuộc Quảng Ninh), Hà Giang, Lào Cai, Lai châu,Vĩnh Yên vẫn chưa được giải phóng (sau khi hiệp định sơ bộ 6 – 3 – 1946 được kí kết, quân Trung Hoa Quốc dân Đảng mới trao trả cho ta). Như vậy, cuộc Tổng khởi nghĩa giành chính quyền do Đảng ta lãnh đạo đã giành thắng lợi trên cả nước trong vòng nửa tháng, từ 14 – 8 đến 28 – 8 – 1945.

V. Cách mạng tháng Tám thành công - nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa ra đời và Ý nghĩa lịch sử của Cách mạng tháng Tám.

1 Nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa ra đời (2 – 9 – 1945)

Trong khi Tổng khởi nghĩa diễn ra sôi nổi trên cả nước, ngày 25 – 8 – 1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh từ Tân Trào (Tuyên Quang) đã về tới Hà Nội.

Theo đề nghị của Người, Ủy ban dân tộc giải phóng Việt Nam do đại hội quốc dân họp ở Tân Trào cử ra cải tổ thành chính phủ lâm thời nước Việt Nam dân chủ cộng hòa, nhằm đoàn kết rộng rãi các tầng lớp nhân dân, các Đảng phái yêu nước và nhân sĩ tiến bộ. nhiều ủy viên thuộc mặt trận Việt Minh trong Chính phủ Lâm thời tự nguyện nhường chỗ cho các nhân sĩ yêu nước ngoài Việt Minh.

Ngày 28 – 8, trên gác hai số nhà 48, phố Hàng Khay, Chủ tịch Hồ Chí Minh soạn thảo bản Tuyên Ngôn Độc lập.

Hồi 2 giờ chiều ngày 2 – 9 – 1945, tại Quảng trường Ba Đình (Hà Nội), trước cuộc mít - tinh lớn của hàng vạn nông dân Hà Nội và các vùng lân cận, Chủ tịch Hồ Chí Minh thay mặt Chính phủ Lâm thời tuyên bố với toàn thể quốc dân và thế giới: Nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa thành lập.

Bản Tuyên ngôn độc lập mở đầu bằng những “lời bất hủ” trong bản Tuyên ngôn độc lập năm 1776 của nước Mỹ và bản Tuyên ngôn nhân quyền của cách mạng Pháp năm 1791. Sự viện dẫn này nhằm khẳng định một chân lí trong sự phát triển, tiến bộ của xã hội loài người. “Đó là những lẽ phải không ai chối cãi được”. Tuyên ngôn Độc lập đã nêu tội ác của thực dân Pháp trong hơn 80 năm thống trị, “đã lợi dụng lá cờ tự do, bình đẳng, bác ái, đến cướp đất nước ta, áp bức đồng bào ta. Hành động của chúng trái hẳn với nhân đạo và chính nghĩa”.

Tuyên ngôn Độc lập cũng nêu rõ, khi Nhật vào Đông Dương, chỉ trong vòng 5 năm thực dân Pháp đã hai lần bán nước ta cho Nhật.

Nhân dân Việt Nam đã đứng dậy đánh đổ xiềng xích thực dân gần 100 năm, lật đổ chế độ quân chủ từng tồn tại mấy mươi thế kỉ, giành độc lập và lập nên chế độ Dân chủ Cộng hòa.

Cuối bản Tuyên ngôn, Chủ tịch Hồ Chí Minh thay mặt Chính phủ Lâm thời của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa trịnh trọng tuyên bố nước Việt Nam được tự do, độc lập và ý chí quyết tâm của nhân dân Việt Nam quyết giữ vững tự do và độc lập ấy: “Nước Việt Nam có quyền hưởng tự do và độc lập, và sự thật đã thành một nước tự do, độc lập. Toàn thể dân tộc Việt Nam quyết đem tất cả tinh thần và lực lượng, tính mạng và của cải để giữ vữngquyền tự do độc lập ấy” [7;437].

Sau khi Chủ tịch Hồ Chí minh độc bản Tuyên ngôn Độc lập, toàn thể thành viên trong Chính phủ Lâm thời làm lễ tuyên thệ trước Quốc kì.

Tiếp đó, Bộ trưởng Bộ Nội vụ Võ Nguyên Giáp trình bày về tình hình trong nước và những chính sách của Chính phủ; Bộ trưởng Bộ Tuyên truyền Trần Huy Liệu báo cáo về việc Đoàn đại biểu Chính phủ đi dự lễ thoái vị của vua Bảo Đại tại Huế; Đại biểu Tổng bộ Việt Minh Nguyễn Lương Bằng trình bày về cuộc đấu tranh giành độc lập dân tộc của Việt Minh và hô hào nhân dân đoàn kết ủng hộ chính phủ.

Tới 3 giờ chiều, toàn thể quốc dân tuyên thệ một lòng ủng hộ Chính phủ do Chủ tịch Hồ Chí Minh lãnh đạo.

Ngày 2 – 9 – 1945 trở thành mốc lịch sử trọng đại của đất nước, là ngày hội lớn của toàn thể dân tộc Việt Nam.


2 Ý nghĩa lịch sử của Cách mạng tháng Tám

Cách mạng tháng tám là một sự kiện trọng đại trong lịch sử dân tộc Việt Nam. Thắng lợi của cách mạng tháng tám không chỉ có ý nghĩa đối với dân tộc mà còn có ý nghĩa quốc tế.

Đối với dân tộc Việt Nam

Cách mạng tháng tám đã lật đổ ách thống trị của thực dân Pháp đè nặng lên đất nước ta trên 80 năm, ách thống trị củ phát xít Nhật gần 5 năm, lật nhào ngai vàng phong kiến ngự trị trên đất nước ta ngót chục thế kỉ.

Với thắng lợi của cách mạng tháng tám, lần đầu tiên một nhà nước mới đã được xây dựng ở nước ta – nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, nhà nước của dân, do dân, vì dân. Nhân dân ta từ thân phận nô lệ trở thành người chủ đất nước, chủ vận mệnh dân tộc.

Thắng lợi của cách mạng tháng Tám mở ra một kỉ nguyên mới của dân tộc: Kỉ nguyên độc lập, tự do.

Đối với quốc tế

Trong gần 5 năm đấu tranh chống phát xít Nhật chiếm đóng, khi thời cơ đến, dân ta nổi dậy “lấy lại nước Việt Nam từ tay Nhật”, với thắng lợi của cách mạng tháng Tám, nhân dân ta đã góp phần cùng nhân dân thế giới đánh bại chủ nghĩa phát xít, mang lại hòa bình cho nhân loại.

Thắng lợi của cách mạng tháng Tám đã gián đòn mạnh mẽ vào chủ nghĩa thực dân cũ trên toàn thế giới.

Thắng lợi của cách mạng tháng tám là thắng lợi đầu tiên trong thời đại mới của dân tộc nhược tiểu đã tự giải phóng khỏi ách đế quốc thực dân. Thắng lợi đó đã cổ vũ mạnh mẽ tinh thần đấu tranh của nhân dân các nước thuộc địa và phụ thuộc trên thế giới, đặc biệt là đối với hai nước bạn bè Miên và Lào. Đó là thắng lợi đầu tiên của Đảng vô sản ở nước thuộc địa đã giành được chính quyền cách mạng trong cả nước.

Hồ Chí Minh nói: “chẳng những giai cấp lao động và nhân dân Việt Nam ta có thể tự hào, mà giai cấp lao động và những dân tộc bị áp bức nơi khác cũng có thể tự hào rằng: lần này là lần đầu tiên trong lịch sử cách mạng của dân tộc thuộc địa và nửa thuộc địa, một đảng mới 15 tuổi đã lãnh đạo cách mạng thành công, đã nắm chính quyền toàn quốc”.


3 Nguyên nhân thắng lợi của Cách mạng tháng Tám

Thắng lợi của cách mạng tháng tám là tổng hợp của những yếu tố khách quan và chủ quan.

Về khách quan:

Cuộc chiến tranh thế giới thứ hai làm cho chủ nghĩa đế quốc suy yếu. Đế quốc Pháp thống trị nước ta bị Đức chiếm đóng. Bọn thực dân ở Đông Dương bị Nhật đảo chính truất quyền cai trị Đông Dương.

Khi Liên Xô tiến hành cuộc chiến tranh vệ quốc, những thắng lợi của Hồng quân Liên Xô tiêu diệt hoàn toàn phát xít Đức đã cổ vũ tinh thần nhân dân ta trong cuộ đấu tranh giải phóng dân tộc.

Cuộc đấu tranh chống phát xít của đồng minh, của lực lượng dân chủ, tiến bộ trên thế giới, của phong trào giải phóng dân tộc ở Châu Á, châu Phi và Mỹ Latinh, đặc biệt chiến thắng của Hồng quân Liên Xô tiêu diệt đạo quân Quan Đông của Nhật buộc Nhật đầu hàng đồng minh không điềi kiện, tạo thời cơ khách quan thuận lợi cho

nhân dân ta nổi dậy giành chính quyền.

Về chủ quan:

Dân tộc ta có truyền thống yêu nước nồng nàn, đã trãi qua hàng ngàn năm đấu tranh giữ nước và dựng nước, đã tích lũy được nhiều kinh nghiệm quý báu truyền từ đời này sang đời khác. Nhân dân ta đã kế thừa và phát huy truyền thống quý báu đó. Đặc biệt từ khi có Đảng Cộng sản Đông Dương lãnh đạo cuộc cách mạng giải phóng dân tộc, nhân dân ta đoàn kết một lòng, không quản hy sinh, gian khổ, đứng lên cứu nước, cứu nhà.

Đảng Cộng sản Đông Dương, đứng đầu là Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đề ra đường lối giải phóng dân tộc đúng đắn, theo nguyên lí của chủ nghĩa Mác – LêNin, vận dụng sáng tạo vào thực tiễn cách mạng Việt Nam.

Cách mạng tháng tám diễn ra trong 15 ngày, nhưng sự chuẩn bị liên tục của Đảng trong suốt 15 năm: trải qua các phong trào cách mạng 1930 – 1935, 1936 – 1939, đã tích lũy được nhiều bài học kinh nghiệm cho cách mạng tháng tám. Nhất là sự chuẩn bị chu đáo, toàn diện của Đảng cho cách mạng giải phóng dân tộc từ năm 1939 đến năm 1945: Chuẩn bị về đường lối, xây dựng lực lượng chính trị, lực lượng vũ trang, xây dựng căn cứ địa cách mạng.


Sự chỉ đạo linh hoạt, sáng tạo, chủ động của Đảng, của Chủ tịch Hồ Chí Minh, của các cấp bộ Đảng và Việt minh trong Tổng khởi nghĩa: Xác định thời cơ phát động khởi nghĩa, sử dung hình thức đấu tranh thích hợp, sử dung lực lượng chính trị, lực lượng vũ trang, kết kợp đấu tranh chính trị với đấu tranh vũ trang, kết hợp lực lượng Trung ương với địa phương, chỉ đạo khởi nghĩa từng phần tiến tới Tổng khởi nghĩa khi thời cơ đã đến.

“Cách mạng tháng tám thành công căn bản là do lực lượng chính trị của nhân dân đã kịp thời nắm lấy cơ hội thuận tiện nhất, khởi nghĩa giành chính quyền Nhà nước. Nhưng nếu Đảng ta trước đó không xây dựng lực lượng vũ trang và thành lập những khu căn cứ rộng lớn để làm chỗ dựa cho lực lượng chính trị và phong trào đấu tranh chính trị, và khi điều kiện đã chín muồi không mau lẹ phát động cuộc khởi nghĩa vũ trang thì cách mạng không thể mau chóng giành được thắng lợi".

Nhiều tờ báo của Đảng và Việt Minh lần lượt ra đời: Giải phóng, Cờ giải phóng, Cứu quốc, Việt Nam độc lập, Bãi Sậy, Đuổi giặc nước, Chặt xiềng, Kèn gọi lính, Quân giải phóng, Kháng địch, Độc lập…Ngay trong một số nhà tù đế quốc, các chiến sĩ cộng sản cũng ra báo như Suối reo (Sơn La), Bình Minh (Hòa Bình), Thông reo (Chợ chu), Dòng sông cong (Bá vân).

Việt Minh còn cử cán bộ hoạt động công khai, nữa công khai trong lĩnh vực văn hóa, tư tưởng để tổ chức, đoàn kết, hướng dẫn trí thức, văn nghệ sĩ, thanh niên, hướng họ tham gia vào sự nghiệp giái phóng dân tộc.

Năm 1943, Đảng đưa ra “Đề cương văn hóa Việt Nam”. Đề cương vạch rõ tính chất phản động trong chính sách văn hóa nô dịch ngu dân của Pháp – Nhật, nêu lên tầm quan trọng của văn hóa cách mạng. Văn hóa mới Việt Nam mang tính chấtdân tộc, dân chủ, xây dựng trên 3 nguyên tắc cơ bản, khoa học, dân tộc và đại chúng.

Hội văn hóa cứu quốc Việt Nam ra đời và tham gia mặt trận Việt Minh.
Đảng còn vận động một số tư sản, trí thức yêu nước, tiến bộ thành lập Đảng dân chủ Việt Nam.

Đảng Dân chủ Việt Nam ra đời tháng 6 – 1944 và đã gia nhập Việt Minh.

Đảng Dân chủ Việt Nam và hội văn hóa cứu quốc đã tích cực hoạt động góp phần mở rộng khối đại doàn kết dân tộc, đóng góp vào công cuộc chuẩn bị khởi nghĩa vũ trang giành chính quyền.


 
Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết

  Ý kiến bạn đọc

  Ẩn/Hiện ý kiến

Mã chống spam   

Những tin mới hơn

 

Những tin cũ hơn

Thời điểm thi THPT QG

Bạn muốn tổ chức thi thử vào THPT QG khi nào?

Top