Các giai cấp Việt Nam sau cuộc khai thác thuộc địa lần 2

 - Người đăng bài viết: nguyễn thị linh  - Chuyên mục :  Đã xem: 27 

Trung tâm dạy tốt giới thiệu tới bạn đọc bài viết về Các giai cấp Việt Nam sau cuộc khai thác thuộc địa lần 2.

 

 

Vào thời kì này, sản xuất nông nghiệp vẫn giữ vai trò chủ đạo trong toàn bộ nền kinh tế, nên những lực lượng gắn liền với nền sản xuất nông nghiệp vẫn là những bộ phận quan trọng trong cơ cấu xã hội.

1- Giai cấp địa chủ

Trong khi các thành phần kinh tế TBCN có những bước phát triển mạnh hơn thời kỳ trước thì các thế lực của giai cấp địa chủ vẫn không bị suy giảm chút nào, trái lại còn được củng cố, phát triển lớn mạnh hơn trước. Thế lực đó được củng cố vững chắc nhất thông qua sự tập trung ngày càng cao ruộng đất-tư liệu sản xuất cơ bản trong nông nghiệp-vào tay giai cấp địa chủ dưới sự che chở của thực dân Pháp.

– Ở Bắc Kì: do bình quân ruộng đất thấp, số chủ ruộng có từ 5 mẫu(1,8ha) trở lên đã được tính là địa chủ và số chủ ruộng có từ 50 mẫu trở lên được coi là đại địa chủ.

Năm 1930, số địa chủ vừa và nhỏ(5-50mẫu)chiếm 8,4% số chủ ruộng và khoảng 20% diện tích canh tác; có 1060 đại địa chủ chiếm 0,1% số chủ ruộng chiếm 20% diện tích canh tác; số chủ ruộng có diện tích dưới 1 mẫu (0,36ha) chiếm 61% số chủ ruộng.

– Ở Trung Kì: gồm 39.500 chủ đất có 5-50 mẫu ruộng, chiếm 6% tổng số chủ ruộng và 15% diện tích canh tác; có 350 đại địa chủ sở hữu trên 50 mẫu bằng 1,4% tổng số chủ ruộng, chiếm 10% diện tích canh tác.

– Ở Nam Kì: diện tích đất canh tác tăng nhanh và mức độ tập trung ruộng đất rất cao so với Bắc và Trung Kì. Vào năm 1930, số chủ ruộng có 5-100 ha là 69.000 người chiếm 25,7% số chủ ruộng và 45% diện tích canh tác(khoảng 1.035.000 ha); có 2.449 đại địa chủ sở hữu 100-500 ha và 244 đại địa chủ có trên 500 ha.

Nói chung, lực lượng địa chủ thời kỳ này chiếm khoảng 7% cư dân nông thôn, nhưng nắm giữ 50% diện tích canh tác. Cho đến sát chiến tranh TG2, toàn VN có khoảng 6.500 địa chủ có sở hữu trên 50ha ruộng đất, trong đó Nam Kì có 6.200, Bắc Kì có 200 và Trung Kì có 100 người. Đó là những cơ sở tạo nên thế lực kinh tế, đồng thời là công cụ bóc lột của giai cấp này đối với nông dân.

Đa số địa chủ đem RĐ phát canh thu tô. Tô có thể là hiện vật hoặc bằng tiền, song chủ yếu là tô hiện vật, gồm các sản phẩm thu được từ đất canh tác. Ở Nam Kì có 345.000 gia đình nông dân chuyên sống bằng lĩnh canh RĐ của địa chủ, chiếm 57% tổng số hộ nông dân; 63% RĐ được đem phát canh và số chủ ruộng có phát canh lên đến 90.285 người. Ở Bắc Kì, số người lĩnh canh RĐ và tá điền là 275.000 người, chiếm 24% cư dân nông thôn. Ở Trung Kì, số tá điền và người lĩnh canh khoảng 100.000 người, chiếm 13% cư dân nông nghiệp.

Ở các vùng miền núi, hình thức bóc lột chủ yếu của địa chủ với nông dân là địa tô lao dịch.

Do các quy chế của chính quyền thực dân đề ra qua các cuộc “cải lương hương chính”, như lựa chọn các thành phần có “tài sản và danh giá”, trung thành với chế độ thực dân.v.v. đưa vào bộ máy chính quyền cơ sở nên địa vị của giai cấp địa chủ trong nông thôn được nâng cao và củng cố vững chắc. Giai cấp địa chủ chiếm đa số trong cơ cấu chính quyền các hương thôn(Hội đồng tộc biểu, Hội đồng kì mục, Xã trưởng, Tổng lí…). Ngoài ra thực dân Pháp còn tạo điều kiện và những cơ sở pháp lí cho giai cấp địa chủ tham gia vào các tổ chức chính quyền bên trên(Hội đồng dân biểu, Hội đồng quản hạt…). Do đó , sự câu kết giữa giai cấp địa chủ với thực dân Pháp càng được củng cố vững chắc hơn.

2- Giai cấp nông dân

Là thành phần chiếm đại đa số trong xã hội VN với khoảng 90% dân số. Trong quá trình sản xuất, giai cấp nông dân cũng dần bị phân hoá thành 3 tầng lớp: trung nông, bần nông, cố nông.

Trung nông: có tương đối đủ RĐ và công cụ sản xuất(trâu, bò, nông cụ…) để tự sản xuất và nuôi sống mình, không phải bán sức lao động, nhưng cũng không có khả năng tham gia vào việc bóc lột người khác. Tuy nhiên đó chỉ là những đặc điểm có tính chất tương đối. Một số trung nông lớp dưới vẫn phải bán sức lao động(tuỳ thời điểm) và một số có tham gia bóc lột qua việc cho lĩnh canh RĐ dư hoặc phát canh lại RĐ lĩnh canh của địa chủ như ở Nam Kì.

Bần nông: là những người thiếu RĐ canh tác, thiếu trâu bò và nông cụ sản xuất, phải lĩnh canh(thêm) RĐ của địa chủ, thuê mướn trâu bò, nông cụ và tiền vốn.

Cố nông: là tầng lớp nghèo khổ nhất, bần cùng nhất trong giai cấp nông dân. Họ thường không có RĐ, không có trâu bò hay nông cụ. Nguồn sống chính là đi lĩnh canh RĐ, làm thuê, đi ở cho nhà giàu. Theo điều tra năm 1945, ở 16 tỉnh miền Bắc có 11.785 hộ cố nông chiếm 20,6% tổng số nông hộ, nhưng chỉ có 1.513 mẫu 7 sào ruộng chiếm 1,2% tổng số RĐ.

Tóm lại, thời kỳ này giai cấp nông dân chiếm 90% dân số nhưng chỉ có 42% diện tích canh tác. Nông dân bị bóc lột nặng nề, nhưng lại không có lối thoát. Một số lớn bị bần cùng hoá, phải bỏ ra các thành thị, hầm mỏ để kiếm việc, song phần nhiều phải quay về vì không kiếm nổi việc; những năm khó khăn, khủng hoảng kinh tế, tình trạng này càng phổ biến. Đó là con đường bần cùng không lối thoát của nông dân VN thời Pháp thuộc.

Bên cạnh các giai cấp đại diện cho xã hội VN truyền thống, các giai tầng mới cũng xuất hiện và ngày càng phát triển, phân hoá rõ rệt.

3- Giai cấp tư sản

Trước Thế chiến I, tư sản VN chỉ là một tầng lớp nhỏ bé, chủ yếu kinh doanh thương nghiệp, hoạt động sản xuất còn rất hạn chế. Từ sau chiến tranh, hoạt động kinh doanh của tư sản VN được mở rộng và có quy mô lớn hơn. Họ kinh doanh trong hầu hết các ngành kinh tế: xay xát, in ấn, dệt, nhuộm, vận tải, sửa chữa cơ khí, sản xuất sơn, xà phòng, đường, nước mắm, đồ gốm.v.v. Một số đã có trong tay những sản nghiệp lớn như: hầm mỏ, đồn điền, các công ti thương mại… Một số đã có những cơ sở sản xuất thu hút vài trăm công nhân, mở rộng và phát triển nhanh chóng về thế lực kinh tế…

Tóm lại, tư sản VN đã thực sự hình thành một giai cấp xã hội vào những năm sau Thế chiến I. Tuy nhiên, do tác động của các điều kiện kinh tế-xã hội mới, nên sau chiến tranh, giai cấp tư sản tiếp tục phân hoá thành 2 bộ phận là Tư sản mại bản và Tư sản dân tộc.

– Bộ phận tư sản mại bản ngày càng đông đảo thêm cùng với tốc độ đầu tư của tư bản Pháp. Từ sau chiến tranh TGI, hang hoá Pháp nhập vào Đông Dương tăng nhanh, từ 1.641 triệu Phơ-răng mỗi năm(giai đoạn 1919-1923) lên tới 2.253 triệu Phơ-răng mỗi năm trong giai đoạn 1924-1928, do đó số người làm đại lí hang hoá cũng tăng lên. Bắt đầu xuất hiện những công ti có quy mô lớn, như: Tri Phú, Quế Dương(Hải Phòng), Đan Phong(Hà Nội), Thuận Hoà(Chợ Lớn)…

Số tư sản mại bản chuyên thầu khoán những công việc công chính, xây dựng cũng tăng lên. Chỉ riêng Bắc Kì những năm 1923-1927 đã có 449 nhà thầu khoán VN lĩnh trưng công việc công chính với số tiền trên 4 triệu Phơ-răng. Ngoài ra, còn có một số người chung vốn với tư bản Pháp kinh doanh công, nông nghiệp như Vũ Duy Hinh, Vũ Văn An…

Một số nhà tư sản VN đã có quan hệ buôn bán ở các nước Miên, Lào, Trung Quốc, Hồng Kông, Xingapo, Inđônêxia, Pháp. Hàng năm các công ti thương mại của VN đã nhập khẩu vào thị trường trong nước từ 3.000 đến 7.000 tấn hang hoá.

– Bộ phận tư sản dân tộc sau chiến tranh TGI cũng có bước phát triển vượt bậc về số lượng và thế lực kinh tế. Nhiều cơ sở kinh tế đã có từ trước và trong chiến tranh TG thứ nhất, nay được mở rông quy mô sản xuất và tăng cường thêm thiết bị kĩ thuật, như xưởng sơn của Nguyễn Sơn Hà, xưởng sửa chữa tàu của Bạch Thái Bưởi, xưởng dệt của Lê Phát Vĩnh… Nhiều đồn điền rộng hàng ngàn mẫu ở Nam Kì xuất hiện, thu hút hang trăm công nhân.

Bên cạnh đó, một số cơ sở mới được thành lập như: nhà máy gạch Hưng Kí ở Bắc Ninh, xí nghiệp dệt Vĩnh An ở Huế…

Nhìn chung, sau chiến tranh TGI, giai cấp tư sản VN đã lớn mạnh và trưởng thành rõ rệt. Đại diện cho thế lực kinh tế của tư sản VN là những người như: Trương Văn Bền, Nguyễn Sơn Hà, Bạch Thái Bưởi, Lê Phát Vĩnh… Công ti tàu biển của Bạch Thái Bưởi đã có lúc sử dụng tới 30 chiếc tàu với 1.500 công nhân.

Tuy nhiên, địa vị kinh tế của tư sản VN còn rất nhỏ yếu và thấp kém so với tư bản nước ngoài, cũng như so với toàn bộ nền kinh tế. Tổng số  vốn kinh doanh của họ chỉ bằng khoảng 5% số vốn của tư bản nước ngoài. Tư sản VN chủ yếu kinh doanh thương nghiệp, trong các ngành công nghiệp thì lực lượng còn rất nhỏ(toàn bộ vốn đầu tư vào các ngành hầm mỏ, cơ khí, giao thông vận tải chỉ bằng 1% số vốn đầu tư của tư bản Pháp). Toàn bộ lực lượng nòng cốt của giai cấp tư sản VN vào cuối những năm 20 chỉ vào khoảng 2.000 người, chiếm 0,1% dân số cả nước.

Bên cạnh giai cấp tư sản ở thành thị, tầng lớp phú nông ở nông thôn cũng phát triển, song cũng rất chậm chạp. Vào những năm 30, lực lượng phú nông chiếm khoảng 2% số hộ nông dân và nắm khoảng 7% diện tích RĐ. Nhìn chung, tầng lớp phú nông ở VN không có khả năng tập hợp tư liệu sản xuất, nhất là RĐ, để phát triển thế lực kinh tế, họ không có sở hữu lớn về RĐ và các tư liệu sản xuất khác. Một bộ phận trong số họ-nhất là ở Nam bộ-phải lĩnh canh RĐ của địa chủ, và khi đã tập trung được khá nhiều RĐ thì một số lại trở lại phát canh thu tô, thay cho việc phát triển hình thức kinh doanh tư bản chủ nghĩa trong nông nghiệp.

Một trong những nguyên nhân khiến cho giai cấp tư sản VN phát triển “chậm một cách khác thường” là vì họ luôn bị chèn ép và cản trở từ nhiều phía. Tư bản Pháp, với uy thế của kẻ thống trị, đã ra sức chèn ép tư sản VN trong kinh doanh, nhất là trong sản xuất công nghiệp. Trong thương nghiệp, tư sản VN không những gặp phải tư sản Pháp, mà còn gặp phải một lực lượng cạnh tranh nguy hiểm khác là tư sản người Hoa. Các hoạt động thương mại, từ buôn bán thóc gạo, xay xát, vận chuyển và xuất nhập khẩu đều bị tư sản Hoa kiều lũng đoạn triệt để. Trong nông nghiệp, quan hệ tư bản chủ nghĩa lại bị giai cấp địa chủ với lối tổ chức sản xuất phong kiến cũ kìm hãm nặng nề.

Quá trình phát triển của tư sản VN từ sau chiến tranh TGI là quá trình lớn mạnh và chuyển biến từ một tầng lớp xã hội sang một giai cấp xã hội, và bắt đầu bước lên vũ đài chính trị, góp phần mình vào các phong trào dân tộc. Tuy vậy, vì cơ sở kinh tế của giai cấp tư sản VN hết sức nhỏ yếu nên thái độ chính trị của họ rất bạc nhược. Trong cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc sau Thế chiến I, vai trò chủ yếu thuộc về tầng lớp tiểu tư sản chứ không phải tư sản; và sau khi cuộc khởi nghĩa Yên Bái(1930) bị thất bại thì vai trò chính trị của giai cấp tư sản hầu như chấm dứt.

4- Giai cấp công nhân

Giai cấp công nhân VN ngày càng đông đảo thêm theo đà phát triển đầu tư vào các ngành kinh tế. Năm 1929, riêng số công nhân làm trong các doanh nghiệp của người Pháp ở Đông Dương(chủ yếu ở VN) là 221.050 người. Ngoài ra, số công nhân làm việc trong các doanh nghiệp của tư sản VN và nước ngoài khác cũng chiếm khoảng vài vạn người. Chưa kể, luôn luôn tồn tại một số lượng đáng kể công nhân thời vụ theo các hợp đồng của tư sản.

Đông đảo nhất trong giai cấp công nhân VN là công nhân nhóm ngành công nghiệp nhẹ, giao thông vận tải và thương nghiệp gồm 86.622 người, chiếm 39,2% tổng số công nhân, tập trung ở các thành thị lớn như Hà Nội, Hải Phòng, Nam Định, Vinh, Sài Gòn, Chợ Lớn. Bộ phận đông đảo thứ hai là số công nhân các đồn điền tập trung chủ yếu ở Nam Trung kì và Tây Nam kì với 81.188 người, chiếm 36,8% tổng số công nhân. Tiếp đến là đội ngũ công nhân mỏ với 53.240 người, chiếm 24,6% tổng số công nhân, tập trung chủ yếu ở vùng Quảng Yên, Đông Triều.

Một số công nhân qua con đường tuyển mộ cưỡng bức, nhất là số công nhân đồn điền. Một số chỉ vô sản hoá nửa vời(bán vô sản), nhất là số công nhân theo mùa, phu công nhân. Trình độ văn hoá của công nhân VN rất thấp, số người mù chữ đông. Tính chất vô sản hiện đại của họ cũng bị hạn chế bởi việc sử dụng quá rộng rãi lao động thủ công trong các ngành sản xuất, kinh doanh(hiện tượng phổ biến trong quá trình sản xuất là giới chủ sử dụng lao động chân tay một cách triệt để; trong hầm mỏ, các hoạt động đào, xúc, chuyển than… đều chủ yếu sử dụng sức lao động chân tay của con người). Tính chung trong tất cả các ngành cho đến năm 1929, số công nhân kỹ thuật chỉ chiếm có 0,43% tổng số công nhân. Điều kiện sống và lao động của công nhân nói chung rất khổ cực, họ thường làm việc từ 10 tiếng, cá biệt từ 12-16 tiếng một ngày, với đồng lương rẻ mạt, thêm vào đó thường xuyên bị đốc công, cai… áp bức, đánh đập tàn nhẫn. Do đó, giai cấp công nhân VN sớm có tinh thần đấu tranh. Mặc dù số lượng công nhân chiếm tỷ lệ chưa lớn trong tổng số dân VN(năm 1929 chiếm 1,1%) nhưng họ sống khá tập trung tại các thành thị lớn, các trung tâm công nghiệp(năm 1929, Hòn Gai-Đông Triều có tới 35.900 công nhân mỏ; Hà Nội có hơn 2 vạn công nhân trên tổng số 13 vạn dân; Vinh-Bến Thuỷ có 7.000 công nhân, chiếm 38% dân số). Tinh thần kỷ luật, ý thức đoàn kết của công nhân cũng được rèn giũa qua quá trình lao động và đấu tranh.

Do những đặc điểm trên, giai cấp công nhân VN đã sớm được giác ngộ ý thức giai cấp và nhanh chóng vươn lên nắm lấy ngọn cờ lãnh đạo cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc. Các phong trào đấu tranh do giai cấp công nhân tổ chức, tham gia ngày càng nhiều. Ý thức giác ngộ cách mạng của giai cấp công nhân ngày càng được nâng cao theo đà của các cuộc đấu tranh và của việc tăng cường tuyên truyền chủ nghĩa Mác-Lênin vào VN. Từ 1930, với việc thành lập ĐCS VN, giai cấp công nhân VN đã chính thức giành được ngọn cờ lãnh đạo cuộc cách mạng giải phóng dân tộc.

5- Giai cấp tiểu tư sản

Các tầng lớp tiểu tư sản thành thị thời kì này cũng ngày càng đông đảo cùng với quá trình mở mang các đô thị, tăng cường đầu tư phát triển kinh tế-văn hoá-giáo dục. Họ bao gồm thợ thủ công, thị dân, học sinh-trí thức với địa bàn cư trú chủ yếu ở các thành thị. Họ được bổ sung lien tục trong quá trình 30 năm phát triển kinh tế-xã hội và đã hợp thành một tầng lớp rất đông đảo trong xã hội.

Giới trí thức và học sinh các trường là bộ phận quan trọng của đội ngũ tiểu tư sản. Năm 1929, ước tính có 12.000 giáo viên các trường tiểu-trung học. Số học sinh phổ thông các cấp là 335.545 người(trong đó, 328.000 học sinh tiểu học, 7.545 học sinh trung học). Bên cạnh đó là hang trăm sinh viên các trường cao đẳng và đại học.

Số viên chức làm việc trong các công sở gồm khoảng 23.000 người.

Số người buôn bán nhỏ có đóng thuế môn bài thường xuyên khoảng 130.000 người.

Còn về hoạt động công nghiệp, theo ước tính vào giữa những năm 30, VN có khoảng 21,6 vạn thợ thủ công(trong đó Bắc kì là nơi tập trung đông nhất với khoảng 12 vạn, Trung kì 3,6 vạn, Nam kì 6 vạn); đó là chưa kể số thợ thủ công không chuyên trong các làng mạc chưa thể thống kê được. Cũng theo ước tính, số thợ thủ công chiếm khoảng 6-7% dân số(Bắc kì có khoảng 4 vạn gia đình chuyên làm nghề thủ công). Đa số thợ thủ công làm việc ở nông thôn, họ tự mua nguyên liệu, tự tổ chức sản xuất và tiêu thụ sản phẩm. Vì vậy những thợ thủ công này không có khả năng tự chuyển các cơ sở sản xuất thành các công trường thủ công, mà chỉ giữ nguyên cơ sở sản xuất với quy mô nhỏ vốn có.

Nói chung, thu nhập và đời sống vật chất của trí thức và giới công chức khá cao so với nông dân và công nhân. Trong các công sở, lương của viên chức nhỏ khoảng 49 đồng/năm, viên chức trung bình là 166 đồng/năm(trong khi giá gạo vào thời điểm cao nhất trong năm 1930 là 13,1 đồng/tạ). Tuy nhiên, so với thu nhập của các viên chức người Pháp, thì thu nhập của viên chức người Việt vẫn thấp hơn rất nhiều lần(viên chức Pháp thu nhập trung bình 5000 đồng/năm, gấp 30 lần viên chức trung bình và trên 100 lần thu nhập của viên chức nhỏ người Việt; lương 1 người gác cổng Pháp cao gấp 3,5 lần lương 1 kỹ sư VN). Sự bất bình đẳng này gây nên tâm lí bất mãn ngày càng sâu sắc trong giới công chức người bản xứ.

Do tác động của chính sách khai thác thuộc địa của thực dân Pháp, dân số thành thị tăng lên nhanh chóng. Từ 1913 – 1921, Hà Nội tăng thêm 10.000 người, Sài Gòn tăng 33.000, Hải Phòng tăng 40.000 người. Đến 1928, thành phố Nam Định có 38.000 dân, Hải Phòng 98.000 dân, Hà Nội 130.000 dân, Huế 41.000, Sài Gòn 125.000 và Chợ Lớn 192.000 dân.

Đầu những năm 20, dân số thành thị mới chiếm 3,6% tổng dân số, thì đến những năm 30 đã lên đến 8-10%, cá biệt như ở Sài Gòn-Chợ Lớn dân thành thị chiếm 14%.

Nhìn chung thời kì sau chiến tranh thế giới I, các tầng lớp, giai cấp mới đại diện cho phương thức sản xuất mới, đã có những bước tiến đáng kể, nhưng vẫn quá chậm chạp so với yêu cầu của sự tiến bộ xã hội. Các lực lượng xã hội mới vẫn chỉ là thiểu số, nắm trong tay một tiềm lực kinh tế hết sức hạn hẹp. Cơ cấu xã hội cổ truyền tuy đã bị biến dạng và xáo trộn khá mạnh, nhưng vẫn chưa bị phá vỡ và thay đổi căn bản. Tính chất thuộc địa tư bản chủ nghĩa trở thành thuộc tính nổi bật của xã hội VN vào thời kì này.

Dưới tác động của phương thức sản xuất TBCN do tư bản Pháp du nhập vào, nền kinh tế VN dần chuyển biến từ nền kinh tế nông nghiệp lạc hậu, tự cung tự cấp sang nền kinh tế thuộc địa-tư bản chủ nghĩa. Có thể hình dung kết cấu kinh tế VN thời kì này có hai khu vực. Một khu vực hiện đại bao gồm công nghiệp hiện đại, thương nghiệp, các cơ sở tài chính và giao thông, các đồn điền công nghiệp; Và một khu vực truyền thống tập hợp các phương thức hoạt động truyền thống như nông nghiệp và thủ công nghiệp. Việc sử dụng phương thức kinh doanh theo lối tư bản chủ nghĩa đã tạo ra bước phát triển nhanh chóng của lực lượng sản xuất. Nền kinh tế hang hoá đã bắt đầu hình thành và phát triển ở một số khu vực sản xuất. Các sản phẩm làm ra không phải chỉ đảm bảo nhu cầu tiêu dùng trong nước mà còn dùng để xuất khẩu ra thị trường thế giới. Nhờ có các hoạt động kinh tế với nước ngoài mà lần đầu tiên nền kinh tế VN đã vượt khỏi biên giới quốc gia để tiếp cận và từng bước hội nhập với nền kinh tế thế giới.

Rõ ràng so với giai đoạn trước, nền kinh tế VN từ đầu thế kỷ XX đến những năm 30 đã có bước phát triển nhanh chóng và những chuyển biến căn bản. Quan hệ TBCN đã được mở rộng và giữ vị trí quan trọng trong nhiều ngành kinh tế.

Trên cơ sở biến đổi về kinh tế, các thành phần giai cấp xã hội tương ứng cũng dần biến đổi theo. Những lực lượng đại diện cho xã hội cũ  như địa chủ, nông dân ngày càng bị phân hoá sâu sắc: địa chủ thì giàu lên nhanh chóng, còn đa số nông dân thì rơi vào cảnh nghèo đói, bần cùng. Đồng thời các lực lượng xã hội mới như tư sản, công nhân, tiểu tư sản cũng bắt đầu xuất hiện và từng bước trưởng thành nhanh chóng cùng với sự mở rộng của các thành phần kinh tế mới-TBCN. Dân số tăng nhanh, các thị trấn và thị xã được mở rộng nhiều so với trước; bộ mặt thành thị và cả một số vùng nông thôn ven thị cũng thay đổi. Một số cơ cấu xã hội mới đang trên đường định hình và phát triển theo hướng TBCN.

Tuy nhiên, quá trình tư bản hoá của Pháp ở VN còn để lại nhiều hạn chế và những hậu quả nặng nề, mà hạn chế lớn nhất là đã tạo ra một cơ cấu kinh tế què quặt, mất cân đối và sự chuyển biến quá chậm của nền kinh tế, và do đó dẫn tới sự phân hoá thiếu triệt để của cơ cấu giai cấp xã hội.

Mặc dù vậy, sự ra đời và phát triển của các lực lượng xã hội mới đã tạo ra những tiền đề vật chất cần thiết cho sự tiếp thu các quan điểm và tư tưởng mới, làm cơ sở động lực thúc đẩy sự phát triển của phong trào dân tộc, đưa xã hội VN chuyển biến nhanh vào quỹ đạo vận hành của toàn nhân loại.


 
Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết

  Ý kiến bạn đọc

  Ẩn/Hiện ý kiến

Mã chống spam   

Những tin mới hơn

 

Những tin cũ hơn

Thời điểm thi THPT QG

Bạn muốn tổ chức thi thử vào THPT QG khi nào?

Top