CHIẾN DỊCH BẮC TÂY NGUYÊN 1954

 - Người đăng bài viết: nguyễn thị linh  - Chuyên mục :  Đã xem: 48 

Trung tâm Dạy tốt giới thiệu tới bạn đọc CHIẾN DỊCH BẮC TÂY NGUYÊN 1954. Mời bạn đọc tham khảo.

 

CHIẾN DỊCH BẮC TÂY NGUYÊN 1954
 

Nghiên cứu kế hoạch Na-va của địch, Tổng Quân uỷ và Bộ Tổng tư lệnh đã dự kiến khả năng địch mở cuộc tiến công đánh chiếm vùng tự do Khu 5 và Khu 9. Sau Hội nghị quân sự tháng 11 năm 1953, trong phương án tác chiến chiến lược trình Bộ Chính trị (27-11-1953), Tổng Quân uỷ đã chỉ rõ: nhiệm vụ quan trọng bậc nhất của Liên khu 5 trong Đông xuân 1953-1954 là phát triển vào Tây Nguyên, trước hết là phía bắc đồng thời tiếp tục củng cố và bảo vệ vùng tự do hiện nay.

Chấp hành chủ trương chiến lược trên, đầu tháng 12 năm 1953, Hội nghị Liên Khu uỷ và Đảng uỷ Bộ tư lệnh Liên khu 5 quyết định mở chiến dịch tiến công bắc Tây Nguyên nhằm tiêu diệt một bộ phận sinh lực địch, củng cố và mở rộng vùng tự do về phía tây, nối Liên khu 5 và Hạ Lào, phá âm mưu củng cố Tây Nguyên của địch.

Bắc Tây Nguyên gồm hai tỉnh Kom Tum và Gia Lai, địa hình rừng núi hiểm trở, dân cư thưa thớt. Khu vực này có các đường giao thông số 5, 14, 19 nối bắc Tây Nguyên với các tỉnh phía đông và phía nam. Bắc Tây Nguyên là địa bàn chiến lược quan trọng, uy hiếp trực tiếp vùng tự do Quảng Nam, Quảng Ngãi của ta. Tiến công vào bắc Tây Nguyên ta có điều kiện mở rộng vùng tự do về phía tây, uy hiếp toàn bộ vùng Tây Nguyên, Hạ Lào và đông Cam Pu Chia của địch.

Trên địa bàn Tây Nguyên, địch chia làm bốn khu: Kon Tum, Gia Lai, Buôn Ma Thuộc và Lâm Đồng. Bắc Tây Nguyên thuộc chiến trường “Cao nguyên Trung Bộ” của địch, gồm hai khu Kon Tum, Plây Cu, lực lượng có khoảng bốn tiểu đoàn cơ động và 15 đại đội chiếm đóng (cơ bản là ngụy quân). Tại khu Kon Tum, địch phòng thủ thành ba khu vực (Bắc, Nam, Đông) và thị xã. Khu Đông gồm các cứ điểm dọc đường số 5 như cứ điểm Măng Đen, Kon Brây, Măng Bút, là khu vực phòng ngự tương đối mạnh. Đặc biệt là Măng Đen, một cứ điểm trên đường 5 cách Kon Tum khoảng 40 ki-lô-mét, là một cứ điểm mạnh, do một tiểu đoàn đóng giữ. Khu nam Kon Tum có các cứ điểm Đạc Đoa, Buôn Hồ án ngữ trục đường 14 nối Kon Tum với Plây Cu. Nhìn chung, các cứ điểm của địch đều án ngữ các trục giao thông, các cứ điểm cách nhau khoảng 10 đến 30 km. Trong mỗi cứ điểm có một số đồn, nhiều cứ điểm có hệ thống công sự, vật cản khá kiên cố.

Lực lượng của ta tham gia chiến dịch gồm: hai trung đoàn chủ lực 108, 803, trung đoàn địa phương 120, cùng một số tiểu đoàn, đại đội độc lập của Liên khu và các địa phương. Tổng số quân tham gia chiến dịch khoảng 10.000 người.

Giữa tháng 12 năm 1953, kế hoạch tiến công lên bắc Tây Nguyên chính thức được thông qua. Theo kế hoạch, chiến dịch được tiến hành trên hai hướng.

Hướng chính: Bắc Kon Tum, sử dụng trung đoàn 108, trung đoàn 803 (thiếu một đại đội), tiểu đoàn 30 chủ lực độc lập, liên đội đặc công, toàn bộ các đơn vị pháo, cối, phòng không, phần lớn các đơn vị công binh, trinh sát, thông tin cùng lực lượng địa phương tại chỗ thực hành tiến công theo hai bước. Bước 1: trung đoàn 108 và đặc công tiến công hai cứ điểm Măng Đen, Măng Bút, phá vỡ thế phòng thủ đông bắc của địch; trung đoàn 803 tiến công cứ điểm Công Brây, uy hiếp thị xã Kon Tum, đánh viện trên đường 5, đoạn Kon Tum - Công Brây. Bước 2, một bộ phận chủ lực tiếp tục kiềm giữ địch trên đường số 5, còn phần lớn lực lượng phát triển sang hướng tây bắc, phá vỡ hệ thống phòng thủ của địch trong khu vực Đắc Tô – Đắc Lây, hoàn thành nhiệm vụ giải phóng Kon Tum.

Hướng phụ: Đường 19 An Khê do trung đoàn địa phương 120 cùng tiểu đoàn 40 chủ lực của khu, đại đội 11, tiểu đoàn 59, trung đoàn 803 đảm nhiệm. Hướng này phải nổ súng trước, tiêu diệt các cứ điểm Kà Tung, Ba Bả, Kà Tu, đánh phá giao thông trên đường 19, diệt sinh lực, thu hút giam chân địch, tạo điều kiện cho hướng chính phát triển.

Để thống nhất việc lãnh đạo chỉ huy, được sự ủy nhiệm của Trung ương, Liên khu uỷ Khu 5 quyết định thành lập Đảng uỷ, Bộ chỉ huy Chiến dịch bắc Tây Nguyên. Đồng chí Nguyễn Chánh - Bí thư Liên khu uỷ Khu 5 giữ chức Bí thư Đảng uỷ, Tư lệnh kiêm Chính uỷ chiến dịch đồng chí Nguyễn Bá Phát - Tham mưu phó Liên khu làm Tham mưu trưởng chiến dịch. Cơ quan của Bộ tư lệnh Liên khu hình thành hai bộ phận, một bộ phận phục vụ sự chỉ đạo chỉ huy chiến dịch, một bộ phận chỉ đạo chỉ huy hoạt động thường xuyên của Liên khu. Gần 200 cán bộ cấp tỉnh và huyện được điều động về tăng cường cho bộ máy lãnh đạo dân công phục vụ mặt trận. Hàng trăm cán bộ khác của cơ quan khu uỷ và Bộ Tư lệnh Liên khu được giao nhiệm vụ về các tỉnh tự do, kiểm tra đôn đốc việc xây dựng lực lượng, sẵn sàng đánh trả các cuộc tiến công của định.

Căn cứ vào ý định của Liên khu, phòng cung cấp Liên khu 5 cùng các tỉnh Quang Nam, Quảng Ngãi, Bình Định, Phú Yên tổ chức soi đường, mở các tuyến hành lang bí mật lên Tây Nguyên, huy động hơn 100.000 dân công vận chuyển gạo, muối lên dự trữ ở những vùng tiếp giáp chiến trường. Gần như toàn bộ lực lượng vận tải ở tuyến hậu phương của Liên khu dài 264 km, đã được huy động để vận chuyển chuẩn bị cho chiến dịch. Đến ngày 15 tháng 1 năm 1954, 10 hành lang vận chuyển từ 5 đến 10 cung vận tải bộ (có hành lang tới 15 cung) đã đưa hơn 1.000 tấn gạo, gần 100 tấn muối và thực phẩm tới các kho mặt trận. Vũ khí, đạn dược của Tổng cục Cung cấp chi viện cho Liên khu 5 cũng đã vào đến nơi. Bộ đội tham gia chiến dịch được trang bị ĐKZ 57mm, được bổ sung đạn súng trường DAM (lúc đó rất thiếu ở chiến trường Liên khu 5) và được chuẩn bị khá đầy đủ về vũ khí trang bị chiến đấu1.

Để đảm bảo bí mật cho việc chuẩn bị và nghi binh đánh lạc hướng phán đoán của địch, từ đầu tháng 1 năm 1954, Bộ chỉ huy chiến dịch đã chỉ đạo các tỉnh ở vùng sau lưng địch như Quảng Nam, Khánh Hòa, Đắc Lắc, Ninh Thuận, Bình Thuận... tổ chức lực lượng vũ trang phối hợp với nhân dân hoạt động rầm rộ, tập kích các căn cứ hậu cần, kho tàng, diệt tề trừ gian...

Đúng trong dịp này, ngày 20 tháng 1 năm 1954, Na-va huy động gần 30 tiểu đoàn các loại, bắt đầu cuộc hành binh Át-lăng (Atlante) tiến công vùng tự do Phú Yên. Nắm được tình hình, trong cuộc họp ngày 21 tháng 1, Bộ chỉ huy chiến dịch nhận định: Phần lớn lực lượng cơ động của địch đã tập trung ở Phú Yên. Nếu đòn tiến công của ta lên Tây Nguyên không đủ sức uy hiếp mạnh thì không buộc được địch điều động lực lượng lên đối phó. Bộ chỉ huy hạ quyết tâm cho hướng thứ yếu nổ súng trước tiêu diệt các cứ điểm trên đường 19 từ Plây Cu đến An Khê để thu hút sự chú ý của địch, đồng thời trên hướng chính mở màn bằng một đòn tiến công đồng loạt ba mục tiêu: Măng Đen, Măng Bút và Công Brây, đập tan toàn bộ hệ thống phòng ngự đông bắc Kon Tum của địch. 

Đêm 26 tháng 1, trên hướng phụ, trung đoàn 120 nổ súng diệt các cứ điểm Kà Tung, Ba Bả, Tà Tu và Búp Bê trên đường 19, mở màn chiến dịch, tiếp đó phát triển tiêu diệt thêm ba cứ điểm trên địa bàn đảm nhiệm.

Trên hướng chính, đêm ngày 27 tháng 1, ta nổ súng tiến công ba cứ điểm mạnh nhất trong hệ thống phòng thủ bắc Tây Nguyên của địch: Măng Đen, Măng Bút và Công Brây. Măng Đen và Măng Bút cách nhau 10 ki-lô-mét, Công Brây nằm lùi về phía Kon Tum, cách Kon Tum 30 ki-lô-mét và cách Măng Đen 25 ki-lô-mét. Măng Đen là cứ điểm then chốt nhất, nằm trên quả đồi hình yên ngựa và được xây dựng thành hai khu: Khu A (đồn lớn) cấu trúc theo hình tam giác, ở giữa có lô cốt mẹ bằng bê tông cốt thép, ba góc là ba lô cốt nhỏ, nối liền các lô cốt là hệ thống giao thông ngầm, xung quanh là hệ thống dây thép gai hình ngôi sao rộng từ 30 đến 90 mét. Khu B được xây dựng theo hình móng ngựa cũng có ba lô cốt và hệ thống hầm ngầm, giao thông hào ngầm nối liền các lô cốt. Giữa khu A và khu B rộng khoảng 800 mét, có một sân bay nhỏ. Khu A do hai đại đội địch đóng giữ, còn khu B thường có từ 100 đến 150, có khi lên đến 400 lính ứng chiến.

23 giờ 30 phút, tiểu đoàn 19 và 70 của trung đoàn 108 cùng nổ súng đánh vào Măng Đen. Ở hướng tiến công vào Khu A, do tiểu đoàn 19 đảm nhiệm, địch dựa vào công sự lô cốt, hầm ngầm chống trả quyết liệt. Sau ba đợt tiến công, ta thương vong lớn song vẫn không phát triển được. Trận đánh rơi vào thế giằng co.

Trên hướng tiến công vào khu B, do công sự và hoả lực của địch yếu hơn nên sau sáu giờ chiến đấu, tiểu đoàn 79 đã hoàn toàn làm chủ trận địa và tổ chức một mũi vượt qua sân bay đánh vào sau lưng địch ở khu A, hỗ trợ cho tiểu đoàn 19. Bị kẹt giữa hai hướng tiến công, địch ở khu A rơi vào thế bị động lúng túng và lần lượt bị tiêu diệt. 7 giờ ngày 28 tháng 1, sau tám giờ chiến đấu liên tục, ta hoàn toàn làm chủ cứ điểm Măng Đen.

Cùng đêm 24, tiểu đoàn 59 trung đoàn 803 tổ chức đánh cứ điểm Công Brây. Do đường vận động xa hơn nên khi hướng Măng Đen nổ súng, tiểu đoàn vẫn còn cách Công Brây 5 km. Địch ở Công Brây đề phòng. Bộ đội ta nằm phục đến mờ sáng, thấy địch có biểu hiện chủ quan cho là ta không đánh mới bất ngờ nổ súng diệt đồn. Địch tan rã nhanh chóng. Sáng 28, tiểu đoàn 59 làm chủ Công Brây. Hướng Măng Bút, trận đánh diễn ra nhanh gọn. Tiểu đoàn 89 cùng liên đội đặc công làm chủ cứ điểm sau 30 phút chiến đấu.

Ba cứ điểm Măng Đen, Công Brây, Măng Bút bị san phẳng, cụm phòng ngự then chốt của địch ở bắc Tây Nguyên bị đập tan, tiểu khu Kon Tum bị uy hiếp trực tiếp. Lực lượng cơ động (GM100) đang bị giam chân ở Phú Yên chưa thể ứng cứu ngay được. Địch ở Kon Tum rơi vào tình trạng hoang mang dao động.

Tunguska:
Chớp thời cơ, đêm 28 tháng 1, Bộ chỉ huy chiến dịch lệnh cho các đơn vị đẩy nhanh tốc độ tiến công. Trung đoàn 28 phát triển tiến công địch trên hướng bắc Kon Tum, diệt các cứ điểm Đắc Tô, Đắc Sút, Đắc Lây... Trên đường 14 trung đoàn 803 áp sát uy hiếp thị xã Kon Tum, đồng thời đưa một bộ phận luồn sâu xuống phía nam cắt đường 14, đoạn Plây Cu - Kon Tum. Trung đoàn 120 phát triển sang hướng đèo Măng Giang tiến công các cứ điểm của địch ở khu vực ngã ba đường 19 và đường 19 bis.

Bước vào đợt 2, trên hướng bắc Kon Tum, trung đoàn 108 đã nhanh chóng tổ chức tiến công địch từ ngày 29 tháng 1. Nhưng nghe tin chủ lực ta tiến công, địch ở các đồn từ Đắc Tô, Đắc Lây, Đắc Sút cùng nhiều đồn bốt khác đã bỏ chạy trước khi ta đến. Trung đoàn chuyển sang truy kích địch. Sau bảy ngày đuổi địch, trung đoàn 108 đã diệt và bắt hàng trăm tên, giải phóng dải đất phía bắc Kon Tum và áp sát uy hiếp thị xã.

Trong khi trung đoàn 108 đang truy kích, tiến về thị xã Kon Tum từ phía bắc, ngày 31 tháng 1, địch điều GM100 từ Phú Yên lên tăng viện cho Kon Tum và Plây Cu (một tiểu đoàn ở Plây Cu, hai tiểu đoàn ở Kon Tum). Ngày 1 tháng 2, địch ở Kon Tum mở cuộc hành binh giải toả ra hướng Măng Đen, đến gần Công Brây thì sa vào trận địa phục kích của một bộ phận trung đoàn 803, một đại đội bị diệt, số còn lại phải quay về Kon Tum. Ngay đêm đó, đặc công của trung đoàn 803 đã tập kích diệt sở chỉ huy tiểu đoàn địch ở trung tâm thị xã. Trung đoàn 803 tiếp tục vây ép thị xã Kon Tum và cho một bộ phận xuống phía nam thị xã để chia cắt đường 14 theo kế hoạch. Ngày 4 tháng 2, tiểu đoàn 59 (bộ phận luồn xuống phía nam Kon Tum) của trung đoàn 803 đã phục kích một đoàn xe địch trên đường 14 từ Plây Cu tiếp tế cho Kon Tum, diệt bảy xe.

Mặc dù lực lượng ở bắc Tây Nguyên còn đông, nhưng thế trận của địch hoàn toàn bất lợi. Đường số 5, số 14 bị cắt, Kon Tum bị uy hiếp và hoàn toàn cô lập. Để thực hiện chủ trương co cụm hòng đối phó với cuộc tiến công lớn của ta, Bộ chỉ huy Pháp ra lệnh bỏ thị xã Kon Tum, co về phòng thủ Plây Cu, đồng thời tạm dừng cuộc hành quân Át-lăng, đưa lực lượng tăng cường tuyến phòng thủ đường 19 và nam Tây Nguyên.

Đêm 6 tháng 2, địch rút khỏi Kon Tum, trung đoàn 803, do không nắm chắc địch, đã bỏ lỡ cơ hội diệt địch. Ngày hôm sau, trung đoàn tổ chức truy kích, song không có kết quả.

Bộ Tư lệnh chiến địch quyết định đưa trung đoàn 108 và 803 tiếp tục phát triển về hướng Plây Cu. Đêm 16 rạng ngày 17 tháng 2, cùng lúc ta tổ chức tiến công cứ điểm Đắc Đoa và tập kích thị xã Plây Cu.

Đắc Đoa là một cứ điểm mạnh do hai đại đội của binh đoàn cơ động 100 chiếm giữ. Cứ điểm có hệ thống công sự, lô cốt khá vững chắc. Trung đoàn 803 tổ chức hai mũi tên tiến công Đắc Đoa. Mũi chủ yếu phát triển khó khăn, mũi thứ yếu gặp thuận lợi hơn. Cuộc chiến đấu kéo dài hơn tám tiếng sáng ngày 17, ta làm chủ Đắc Đoa, xoá sổ hai đại đội địch, bắt sống 150 tên lính Âu - Phi.

Tại thị xã Plây Cu, đại đội 1, tiểu đoàn 78, trung đoàn 108 tập kích một số kho tàng và sở chỉ huy địch, diệt và làm bị thương gần 200 tên. Tại Buôn Hồ, ta vây ép, gọi hàng một đại đội địch, thu vũ khí rồi phóng thích tại chỗ.

Ngày 17 tháng 2, Chiến dịch bắc Tây Nguyên kết thúc. Trải qua hơn 20 ngày đêm chiến đấu, bộ đội ta đã diệt hơn 2.000 địch, bắt sống 310 tên, đập tan toàn bộ hệ thống phòng ngự của địch ở Kon Tum giải phóng một vùng chiến lược gần 16.000km2 gồm cả một thị xã. Cùng với cuộc tiến công ở Hạ Lào, tạo thành vùng giải phóng liên hoàn từ nam Quảng Ngãi tới Hạ Lào. Ta còn thu nhiều vũ khí đủ trang bị cho một trung đoàn bộ binh.

 

Chiến dịch bắc Tây Nguyên là một thắng lợi lớn của quân và dân ta trong chiến cuộc Đông Xuân 1953-1954. Đây là lần đầu tiên ta giải phóng được một vùng rộng lớn trên chiến trường rừng núi bắc Tây Nguyên, trong đó có một thị xã có tầm quan trọng cả về quân sự và chính trị. Thắng lợi của chiến dịch còn có ý nghĩa buộc địch phải ngừng cuộc hành quân Át-lăng, rút sáu tiểu đoàn bộ binh và dù lên ứng cứu cho Tây Nguyên, xây dựng hai tập đoàn cứ điểm ở Plây Cu và An Khê. Chiến dịch bắc Tây Nguyên đã đánh bại ý đồ “chủ động tiến công trước” và làm phân tán hơn nữa khối cơ động chiến lược của Na-va trên chiến trường Đông Dương.

Thành công của Chiến dịch bắc Tây Nguyên là ở chỗ ta đã chọn cách đánh hay cả về chiến dịch và chiến thuật, tổ chức hiệp đồng toàn diện, có hiệu quả trên địa bàn toàn liên khu.

Về chỉ đạo tác chiến trên địa bàn toàn liên khu, liên khu đã giao nhiệm vụ cho lực lượng vũ trang và nhân dân vùng tự do chuẩn bị mọi mặt sẵn sàng đánh địch bảo vệ hậu phương đồng bằng, để bộ đội chủ lực rảnh tay tác chiến tập trung trên chiến trường rừng núi; chỉ đạo vùng sau lưng địch đẩy mạnh hoạt động để phối hợp với hướng chính. Sự chỉ đạo phối hợp này không những đã tạo thêm bất ngờ đối với địch trên hướng chủ yếu (Tây Nguyên) mà còn buộc địch phải đối phó trên diện rộng trong địa bàn toàn liên khu trước khi địch mở cuộc hành quân Át-lăng.

Về nghệ thuật chiến dịch nét độc đáo của Chiến dịch Bắc Tây Nguyên là ta đã chọn đúng hướng mở màn chiến dịch. Đông bắc Kon Tum là khu vực phòng thủ cứng của địch nhưng lại là khu vực phòng ngự hiểm yếu, không liên hoàn nên khi ta tiến công địch buộc phải ứng cứu, tạo điều kiện cho ta đánh địch ngoài công sự. Khi bị mất thì toàn bộ khu vực bắc Kon Tum và thị xã Kon Tum bị uy hiếp trực tiếp và nhanh chóng dẫn tới tan vỡ.

Sau khi diệt xong các cứ điểm trong tuyến phòng thủ đông bắc Kon Tum, Bộ chỉ huy chiến dịch đã thúc đẩy các đơn vị nhanh chóng bước vào đợt 2, chuyển hướng tiến công các cứ điểm trên tuyến Đắc Tô – Đắc Lây và áp sát uy hiếp thị xã Kon Tum. Chủ trương linh hoạt đó đã khiến cho lực lượng lớn của địch trong thị xã không đủ khả năng tự cứu mà một lực lượng cơ động lớn được điều lên ứng cứu (GM100) cũng bị vô hiệu hóa.

Trong Chiến dịch Bắc Tây Nguyên ta còn chủ trương nổ súng đồng loạt trên các hướng (đông bắc, bắc và đường số 19) và tiêu diệt hàng loạt cứ điểm trong mấy ngày đầu chiến dịch, làm đảo lộn thế trận phòng thủ của địch, gây tâm lý hoang mang dao động trong binh lính địch, tạo điều kiện thuận lợi để ta đánh các trận tiếp sau.

Trong thực hành, bộ đội ta đã vận dụng khá linh hoạt các hình thức, thủ đoạn chiến thuật. Ngoài việc tổ chức tiến công một loạt các cứ điểm, ta đã tổ chức các trận địa phục kích trên đường 5 và đường 14 để đánh địch ngoài công sự, chớp thời cơ tập kích khi địch chủ quan, hay tổ chức các lực lượng luồn sâu đánh phá sở chỉ huy địch trong thị xã.

Tuy còn một số hạn chế trong tổ chức chỉ huy đánh địch trong công sự cũng như trong đánh vận động, song Chiến dịch Bắc Tây Nguyên là một bước tiến quan trọng về nghệ thuật tiến hành chiến dịch ở một chiến trường xa sự giúp đỡ hậu phương của ta. 


 
Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết

  Ý kiến bạn đọc

  Ẩn/Hiện ý kiến

Mã chống spam   

Những tin mới hơn

 

Những tin cũ hơn

Thời điểm thi THPT QG

Bạn muốn tổ chức thi thử vào THPT QG khi nào?

Top