CHIẾN DỊCH AN KHÊ 1953

 - Người đăng bài viết: nguyễn thị linh  - Chuyên mục :  Đã xem: 62 

Trung tâm Dạy tốt giới thiệu tới bạn đọc CHIẾN DỊCH AN KHÊ 1953. Mời bạn đọc tham khảo

 

                                    CHIẾN DỊCH AN KHÊ 1953
Trên địa bàn Liên khu 5, do hạn hán kéo dài, nhiều địa phương mất mùa, nạn đói đe dọa, bộ đội gặp khó khăn về bảo đảm hậu cần, nên vào thời gian chiến trường chính Bắc Bộ mở Chiến dịch Tây Bắc (tháng 10 đến tháng 12 năm 1952), Liên khu không mở được đợt hoạt động phối hợp. Mãi những ngày cuối năm 1952, Bộ tư lệnh Liên khu mới quyết định mở Chiến dịch An Khê nhằm tiêu diệt sinh lực định, đẩy mạnh chiến tranh du kích phối hợp với chiến trường chính Bắc Bộ.

Khu vực phòng ngự của địch ở An Khê là hệ thống cứ điểm nằm trong khu vực từ đèo An Khê tới thị trấn An Khê thuộc huyện An Khê, tỉnh Gia Lai. Hệ thống cứ điểm này khống chế đoạn hiểm trở của đường 19 nối Quy Nhơn với Plây-cu và là một vòng cung ngăn chặn lực lượng của ta từ vùng du kích sông Ba tiến về phía tây. Các cứ điểm của địch trong khu vực này đều chiếm giữ các vị trí có giá trị. Vòng ngoài là các cứ điểm Kon Lía, Tú Thuỷ, Cửu An, Thượng An và Tháp Canh Eo Gió. Mỗi một cứ điểm vòng ngoài địch bố trí một đại đội sơn chiến, có công sự vững chắc và hỏa lực khá mạnh. Tú Thuỷ là cứ điểm trung tâm trong các cứ điểm vòng ngoài, nên địch xây dựng lô cốt kiên cố, có hàng rào và tổ chức ba tầng hoả lực để ngăn chặn ta từ xa. Tại các cứ điểm Tú Thuỷ, Cửu An, Thượng An, địch còn bố trí mỗi cứ điểm một khẩu pháo để phối hợp với trận địa pháo ở An Khê chi viện cho các cứ điểm khi bị tiến công.

Tháng 12 năm 1952, Bộ chỉ huy chiến dịch An Khê được thành lập, Bộ Tư lệnh Liên Khu 5 trực tiếp chỉ huy chiến dịch. Đồng chí Nguyễn Chánh, Chính uỷ kiêm Tư lệnh Liên khu trực tiếp làm Tư lệnh chiến dịch. Theo quyết định của Liên khu, lực lượng tham gia chiến dịch gồm: trung đoàn 108 (ba tiểu đoàn: 19, 79, 50), trung đoàn 803, tiểu đoàn 40 chủ lực Liên khu và trung đoàn 120 bộ đội địa phương đang hoạt động trên địa bàn. Đây là lần đầu tiên Bộ tư lệnh Liên khu tập trung toàn bộ lực lượng chủ lực của Liên khu, cùng lực lượng địa phương hoạt động trên một địa bàn do Bộ tư lệnh Liên khu trực tiếp chỉ huy. Tham gia chiến dịch còn có hàng vạn dân công phục vụ trực tiếp cho hướng chính của chiến dịch và hoạt động nghi binh trên hướng phối hợp.

Ý định tác chiến của Bộ chỉ huy chiến dịch là: sử dụng các tiểu đoàn tiến công diệt các cứ điểm vòng ngoài: Tú Thuỷ, Cửu An, Eo Gió, Thượng An..., uy hiếp trực tiếp An Khê và đường 19, buộc địch phải tăng viện phản kích chiếm lại các cứ điểm đã mất, tạo điều kiện để ta đánh địch ngoài công sự, tiêu diệt, tiêu hao nhiều sinh lực của chúng.

Cuối tháng 12 năm 1952, ta bắt đầu di chuyển lực lượng, vận chuyển vật chất bảo đảm cho chiến dịch. Cùng với việc di chuyển lực lượng và vận chuyển vật chất vào hướng An Khê, ta đồng thời huy động dân công vận chuyển nghi binh trên các hướng Khánh Hoà, Đắc Lắc, bắc Kon Tum và Đồng Xanh, Đồng Nghệ, Phú Túc (Quảng Nam). Các cầu lớn trên tuyến đường sắt Quảng Ngãi - Bình Định được bí mật khôi phục để đưa trung đoàn 108 từ Quảng Ngãi vào khu tập kết, sau đó lại phá sập để che mắt địch. Trung đoàn 803 đang đóng quân ở một khu đông dân, trước khi dời đi phải cho một đơn vị huấn luyện tân binh vào thay thế và hoạt động thường xuyên như hoạt động của trung đoàn 803.

Bằng hoạt động nghi binh chặt chẽ, ta đã giữ được bí mật hướng mở chiến dịch. Địch phát hiện chủ lực ta di chuyển, song không xác định được hướng hoạt động của chủ lực ta. Chúng vội vã báo động chiến đấu ở nam Tây Nguyên và tăng cường cho Quảng Nam hai tiểu đoàn Âu - Phi. Hướng An Khê địch hầu như không ngờ tới.

Sau khi chuẩn bị chu đáo mọi mặt, 1 giờ sáng ngày 13 tháng 1 năm 1953, trung đoàn 108 phát lệnh nổ súng, đồng loạt tiến công các cứ điểm Tú Thuỷ, Cửu An và Eo Gió. Bộ đội ta trên các hướng dũng mãnh tiến công, địch ở Cửu An, Eo Gió hoảng loạn và bị tiêu diệt sau 30 phút chiến đấu. Riêng Tú Thuỷ, địch lợi dụng lô cốt, hàng rào và sự chi viện hoả lực của An Khê và Thượng An chống trả quyết liệt. Trận chiến đấu diễn ra ác liệt, ta phải tổ chức xung phong nhiều lần, tập trung hoả lực diệt từng lô cốt, ụ súng, đến gần sáng mới diệt và làm chủ được Tú Thuỷ.

Tú Thuỷ, Cửu An, Eo Gió bị diệt, quân địch ở Kon Lía hốt hoảng bỏ lại cả kho tàng, đạn dược, tìm đường tháo chạy. Hệ thống cứ điểm vòng ngoài bảo vệ An Khê bị vỡ, Thượng An bị cô lập, đường 19 bị uy hiếp trực tiếp. Quân Pháp ở Tây Nguyên nằm trong tình trạng báo động và vội vã điều động lực lượng chi viện cho An Khê. Ngay sáng ngày 14 tháng 1, địch cho hai đại đội từ An Khê ra phản kích thăm dò, bị ta chặn đánh ở suối Vối khiến chúng phải vội vã quay trở lại An Khê.

Nắm vững phương châm “đánh điểm diệt viện”, Bộ chỉ huy chiến dịch nhận định: “Thế nào địch cũng hành quân giải toả áp lực của ta ở đông bắc An Khê”, do đó hạ quyết tâm sử dụng trung đoàn 108 diệt viện trên đường Hoàng Hoa Thám (nhánh đường số 7, An Khê - Cửu An). Thực hiện ý định của Bộ chỉ huy, trung đoàn 108 đã tổ chức lực lượng phục kích ở đoạn đường trên. Trận địa phục kích của trung đoàn được bố trí bất ngờ ở quãng rừng trống trải cách đồn Cửu An khoảng 500 mét.

Sau mấy ngày cho máy bay và biệt kích lùng sục thăm dò không phát hiện được gì, ngày 17 tháng 1, địch điều động tiểu đoàn sơn chiến số 8, có xe bọc thép dẫn đầu, từ An Khê theo đường Hoàng Hoa Thám tiến đến Cửu An. 10 giờ 30 phút ngày 17, đội hình hành quân cửa địch lọt vào trận địa phục kích của trung đoàn 108. Bộ đội ta giấu quân bí mật trong các cánh rừng thưa, đồng loạt xung phong chia cắt đội hình địch. Do chủ quan, đội hình hành quân của địch kéo dài, không có phòng bị nên khi bị đánh bất ngờ, cả tiểu đoàn địch nhanh chóng rối loạn và tan rã. Bộ đội ta tổ chức truy kích bọn địch tháo chạy, thu dọn chiến trường và giấu quân chuẩn bị cho trận chiến đấu tiếp theo.

Trong khi địch ở An Khê còn đang lúng túng, Bộ tư lệnh chiến dịch quyết định sử dụng trung đoàn 803 tiến công cứ điểm Thượng An và lô cốt Đầu Đèo, hai cứ điểm trấn giữ đường 19 ở đoạn đèo An Khê.

Từ khi Tú Thuỷ, Cửu An, Eo Gió bị diệt, bọn địch ở các cứ điểm còn lại rất chú ý đề phòng. Ban đêm chúng đưa một bộ phận phục kích ở ngoài đồn đồng thời tổ chức canh phòng rất cẩn mật. Sau mấy lần tiếp cận bị lộ, bộ đội ta đã nắm chắc quy luật hoạt động của địch. Rạng sáng ngày 21 tháng 1, tại Thượng An, khi bọn địch phục kích bên ngoài rút về đồn, một lực lượng nhỏ của tiểu đoàn 59 liền bám sát theo sau và diệt ngay lô cốt đầu cầu trong sự ngỡ ngàng của địch. Lô cốt đầu cầu bị diệt, quân địch trong đồn còn đang ngơ ngác, lộn xộn thì các mũi xung kích của tiểu đoàn 59 dũng mãnh xung phong dưới sự chi viện của hoả lực. Sau 15 phút chiến đấu tiểu đoàn 59 thuộc trung đoàn 803 đã làm chủ cứ điểm Thượng An, thu nhiều vũ khí, đạn dược, trong đó có khẩu pháo 105mm. 

Tại lô cốt Đầu Đèo, bọn địch chui vào lô cốt kiên cố liều chết chống đỡ. Bộ đội ta một mặt dùng hoả lực chế áp, một mặt tiếp cận đặt lượng bộc phá 40 kg đánh sập lô cốt. Lô cốt Đầu Đèo bị tiêu diệt nhanh chóng.

Như vậy, đến ngày 21 tháng 1, toàn bộ cứ điểm bảo vệ phía bắc An Khê bị diệt, An Khê và tuyến phòng thủ Măng Giang trực tiếp bị uy hiếp. Tổng chỉ huy quân viễn chinh Pháp vội vã điều ba tiểu đoàn dự bị chiến lược đến tăng viện cho An Khê và đưa tàu hàng không mẫu hạm A-rô-măng-sơ (Aromanche) tới Qui Nhơn. Có thêm lực lượng, địch điều tiểu đoàn dù nguỵ số 1 (1er BPVN) phản kích chiếm lại Thượng An.

Dự đoán đúng ý đồ của địch, Bộ Tư lệnh chiến dịch sử dụng tiểu đoàn 39 trung đoàn 803 tổ chức trận địa phục kích trên đường 19, đoạn từ An Khê đến Thượng An. 9 giờ sáng ngày 24 tháng 1, khi đại bộ phận tiểu đoàn địch lọt vào trận địa phục kích, các chiến sĩ tiểu đoàn 39 đã đồng loạt xung phong chia cắt, bao vây tiêu diệt từng bộ phận. Mặc dù có không quân, pháo binh chi viện, song cả tiểu đoàn địch rơi vào thế bất lợi, nhanh chóng tan rã. Ta tiêu diệt hai đại đội, đánh thiệt hại nặng đại đội thứ ba.

Ngày hôm sau (25 tháng 1) cũng trên đường 19, đoạn tây An Khê, tiểu đoàn 68 của trung đoàn 120 địa phương phục kích chặn đánh đoàn xe 25 chiếc chở một tiểu đoàn dù từ Plây-cu về An Khê, diệt một đại đội, phá năm xe, bắt 50 tù binh, thu một khẩu đại bác không giật 57mm.

Trước cuộc tiến công liên tục của chủ lực ta ở khu vực An Khê, địch buộc phải điều thêm sáu tiểu đoàn tới An Khê và đưa hạm đội đặc nhiệm gồm sáu tàu chiến vào vùng biển Quy Nhơn. Nhận thấy so sánh lực lượng không có lợi cho ta và dự đoán địch có thể đánh vào vùng tự do duyên hải của ta, Bộ tư lệnh chiến dịch quyết định kết thúc chiến dịch. Ngày 28 tháng 1, các đơn vị tổ chức rút quân về vùng tự do. Chiến dịch An Khê kết thúc thắng lợi.

Kết qủa, sau 15 ngày chiến đấu (từ ngày 13 đến ngày 28 tháng 1), ta đã san phẳng sáu vị trí, tiêu diệt và đánh thiệt hại nặng bảy đại đội địch, diệt 571 tên (bắt trên 300 tên), thu 11 khẩu pháo cối (có một khẩu 105mm), trên 550 súng bộ binh các loại, 30 tấn đạn, 25 máy vô tuyến điện cùng nhiều quân trang quân dụng (số vũ khí thu được có thể đủ trang bị cho bốn tiểu đoàn). Ta đã phá hầu hết các khu dồn dân của địch ở đường số 7B và một số khu tập trung ở đường 19, giải phóng trên 10.000 dân trong khu vực.

Chiến thắng An Khê là chiến thắng lớn nhất của ta từ trước tới nay trên chiến trường Nam Trung Bộ, cổ vũ rất lớn tinh thần hăng hái kháng chiến của bộ đội và nhân dân. Tiếng vang của chiến thắng An Khê đã vượt qua phạm vi Đông Dương làm xôn xao dư luận Pháp. Chiến thắng An Khê đánh dấu bước trưởng thành vượt bậc của lực lượng vũ trang Liên khu 5 về tổ chức chỉ huy các chiến dịch vừa và nhỏ. Sau khi giành thắng lợi ở Chiến dịch An Khê, Liên khu 5 đã được Tổng Tư lệnh gửi thư khen ngợi động viên.

Về nghệ thuật chiến dịch, Chiến dịch An Khê đã có sự chỉ huy tập trung thống nhất trên toàn mặt trận: Mặc dù chiến dịch chỉ diễn ra ở phạm vi hẹp xung quanh An Khê, song trên toàn địa bàn liên khu đã có sự phối hợp hoạt động của nhiều lực lượng, tạo điều kiện cho hướng chính giành thắng lợi. Một thành công nữa là Bộ tư lệnh chiến dịch đã thực hiện thành công kế hoạch nghi binh lừa địch về hướng tiến công. Biết địch thường phán đoán hoạt động của chủ lực dựa vào sự vận chuyển vật chất của dân công, Bộ tư lệnh chiến dịch đã huy động dân công vận chuyển nghi binh trên nhiều hướng, tổ chức nghi binh giấu sự di chuyển của chủ lực, nên mặc dù nắm được tin chủ lực ta di chuyển nhưng địch không thể xác định được hướng tiến công của chủ lực ta.

Trong thực hành, nét nổi bật của Chiến dịch An Khê là ta đã chọn mục tiêu khêu ngòi là các cứ điểm hiểm yếu vòng ngoài, vừa sức đánh của ta, song khi ta đánh được lại uy hiếp trực tiếp An khê và đường 19, buộc địch phải tăng viện phản kích, tạo thời cơ để ta tổ chức các trận phục kích, diệt nhiều sinh lực địch. Chiến dịch An Khê để lại nhiều kinh nghiệm về “đánh cứ điểm nhỏ, diệt viện binh nhỏ” ở địa bàn Liên khu 5 lúc bấy giờ.


 
Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết

  Ý kiến bạn đọc

  Ẩn/Hiện ý kiến

Mã chống spam   

Những tin mới hơn

 

Những tin cũ hơn

Thời điểm thi THPT QG

Bạn muốn tổ chức thi thử vào THPT QG khi nào?

Top