Cuộc phản công của Tôn thất Thuyết

 - Người đăng bài viết: nguyễn thị linh  - Chuyên mục :  Đã xem: 24 

Dạy tốt giới thiệu tới bạn đọc bài viết về Cuộc phản công của Tôn thất Thuyết

 

   Cuộc phản công của Tôn thất Thuyết 
1. Cuộc  phản công ở kinh thành Huế năm 1885

 Ngày 6/6/1884, hai bên ký vào Hiệp ước Patennôtre gồm 19 điều khoản. Hiệp ước đánh dấu sự công nhận địa vị thống trị của thực dân Pháp tại Việt Nam, chủ quyền của triều đình Huế chuẩn bị mất vào tay thực dân Pháp, giai đoạn độc lập của triều đình phong kiến nhà Nguyễn sắp đến hồi kết thúc. Tuy nhiên, phái chủ chiến dưới thời vua Kiến Phúc đã tận dụng mọi khả năng để đấu tranh đến cùng. Chính sự đấu tranh quyết liệt của phái chủ chiến đã dẫn đến kết quả ranh giới Trung kỳ kéo đến tận đất Biên Hòa trong Nam và giáp đất Ninh Bình ở ngoài Bắc. Triều đình Huế chỉ thừa nhận Pháp là người bảo trợ chứ không phải được quyền bảo hộ.

Quyền lực của phái chủ chiến trong triều đình Huế dưới thời Kiến Phúc đang diễn biến thuận lợi thì vào đêm 31/7/1884, sau vài tháng lâm bệnh nhà vua đã qua đời.

Ngày 2/8/1884, Ưng Lịch lên ngôi lấy niên hiệu Hàm Nghi. Việc lên ngôi tuy được che đậy dưới danh nghĩa là có di chiếu của vua Kiến Phúc, nhưng thực chất là xuất phát từ chủ trương của phái chủ chiến, đứng đầu là Phụ chính đại thần, kiêm Thương thư bộ Binh Tôn Thất Thuyết. Hành động đó vấp phải sự phản ứng quyết liệt của người Pháp và cũng không tránh khỏi sự đả kích của các phần tử thân Pháp trong nội bộ Hoàng tộc. Nhưng trước sự cứng rắn của phái chủ chiến, phía Pháp buộc phải chấp nhận.

Dựa vào thắng lợi đạt được qua việc giữ vững ngôi vị của vua Hàm Nghi, Tôn Thất Thuyết và phái chủ chiến một mặt đẩy mạnh công tác chuẩn bị lực lượng quân sự, trấn áp những phần tử thân Pháp trong triều đình, kích động tinh thần chống Pháp, mặt khác lại ra sức đấu tranh với Pháp để đòi hỏi chủ quyền của triều đình, tìm cách trì hoãn việc thi hành Hiệp định Patenôtre.

Mâu thuẫn giữa phái chủ chiến và phía Pháp không ngừng căng thẳng, chính phủ Pháp quyết định cử Trung tướng Ruossel de Cuorcy sang Việt Nam với những quyền hành hết sức rộng rãi để đối phó với thái độ cứng rắn của triều đình vua Hàm Nghi. Tôn Thất Thuyết và những người cộng sự của ông trong triều đình cũng ý thức được cuộc đối đầu với Pháp sắp sửa bùng nổ.

De Cuorcy sau khi nắm rõ tình hình tại Việt Nam đã quyết định chọn Huế làm điểm mở đầu cho kế hoạch bình định của mình

Ngày 2/7/1885, De Cuorcy đã mang 3 đại đội bộ binh, 01 phân đội lính bộ truy kích, 01 đội kèn, tổng cộng 19 sỹ quan, 1.024 lính và 2 tàu chiến đến cảng Thuận An - Huế. Ngày 3/7/1885, De Courcy yêu cầu hội kiến với các Thượng thư của Triều đình Huế và Cơ Mật viện để bàn chi tiết lễ chuyển giao hiệp ước Patenôtre, đồng thời nhân cơ hội này để bắt Tôn Thất Thuyết. Nhưng âm mưu của De Courcy bị lộ, Tôn Thất Thuyết cáo ốm không có mặt. Do âm mưu bắt Tôn Thất Thuyết không thành, De Courcy liền đưa yêu sách trắng trợn là đòi triều đình Huế nội trong ba ngày phải nộp tiền chiến phí. Sự khiêu khích của Pháp đối với triều đình Hàm Nghi đã đến cực điểm. Không thể ngồi khoanh tay chịu nhục, Tôn Thất Thuyết quyết định hành động. ông đã chủ động tấn công trước không cho địch khởi hấn

Nửa đêm ngày 4 tháng 7 năm 1885, ông mật chia quân doanh làm hai đạo. Một đạo do Tôn Thất Lệ, em ruột ông chỉ huy vượt sông Hương đánh úp Tòa Sứ Pháp. Còn ông sẽ chỉ huy đạo thứ hai đánh úp doanh trại Pháp ở trấn Bình Ðài (Mang Cá). Một giờ sáng ngày 5 tháng 7 năm 1885 Tôn Thất Thuyết hạ lệnh nổ súng vào Trấn Bình Ðài. Tiếng đại bác nổ vang trời dậy đất. Quân giặc ở Bình Ðài phút đầu vô cùng hoảng hốt, nhưng sau chúng đã củng cố lại được và cố thủ đợi trời sáng. Thấy đồn giặc không một phản ứng, những người chủ chiến tưởng chúng đã chết nên chuyển làn bắn qua bên kia sông, yểm trợ cho đạo quân Tôn Thất Lệ tấn công Tòa Sứ.

Quân ta đã bất ngờ tấn công vào nhượng địa Pháp, đánh nhau giáp lá cà với địch. Quân Pháp vô cùng hoảng loạn. Chúng tập trung toàn bộ lực lượng để bảo vệ kho đạn và bưu điện. De Courcy khẩn thiết xin viện binh từ ngoài Hải Phòng vào.

Ðến gần sáng, quân Pháp củng cố được đội ngũ và phản kích trở lại. Cuộc chiến đấu diễn ra ác liệt ở trong Thành nội. 9 giờ sáng ngày 5/7/1885, Hoàng thành thất thủ, quân Pháp hoàn toàn làm chủ tình thế. Hữu quân đô thống Hồ Văn Hiến và Nguyễn Văn Tường rước vua Hàm Nghi và ba quân rút ra khỏi kinh thành ở cửa Tây Nam. Hậu quân bảo vệ xa giá là Tôn Thất Thuyết. Quân hộ tống xa giá gặp bộ phận đón của Tôn Thất Lệ ở Trường Thi (La Chữ) tổng cộng có hơn 100 người.

Chiếm được Kinh thành, quân Pháp ra sức đốt phá, cướp bóc, bắn giết. Tất cả các của quý trong Hoàng cung đều bị vét sạch. Bộ Binh và Bộ Lại của Tôn Thất Thuyết bị đốt phá tan hoang.

Tuy chiếm được Kinh thành, nhưng đây không phải là mục đích của thực dân Pháp. Cho nên, "sự thật là sau khi thắng trận, ông (chỉ De Courcy -TG) bối rối vô cùng vì cuộc đổ máu ngày 5 tháng 7 đã biến đổi tất cả ở xứ An Nam. Vị vua trẻ tuổi đã rời bỏ kinh thành, ở Huế không còn chính phủ, chính quyền, không còn ai có thể thi hành điều ước liên kết mà ta đã ký kết với xứ An Nam".

Ngược lại, Tôn Thất Thuyết tuy thất bại trong việc tiêu diệt quân Pháp ở Kinh thành, nhưng lại làm cho điều sợ hãi nhất của thực dân Pháp biến thành sự thật - dưới danh nghĩa vua Hàm Nghi ông đã tổ chức một cuộc kháng chiến chống Pháp rộng lớn trên cả nước với tên gọi phong trào Cần Vương.

2.Cuộc xuất bôn của vua Hàm Nghi


         Sau thất bại trong cuộc tấn công quân Pháp tại Trấn Bình Đài, đêm 5.7.1885, vua Hàm Nghi và hoàng gia được Thượng thư Tôn Thất Thuyết hộ tống rời kinh thành. Đoàn vua quan, voi, ngựa, tuỳ tùng đông đảo hành quân chậm chạp trước sự chặn đuổi ráo riết của quân Pháp, cuối tháng 7.1885 mới đến Mai Lĩnh (Quảng Trị). Tại đây, bị địch chặn, Tham biện sơn phòng Tôn Thất Lệ (em ruột Tôn Thất Thuyết) đã hy sinh để bảo vệ nhà vua. 

       Sau đó, vua Hàm Nghi đến căn cứ Tân Sở (Cùa, Cam Lộ), vua ra chiếu Cần Vương,rồi đoàn hộ tống vua đi theo đường núi sang Lào. Bà Từ Dũ, mẹ vua Tự Đức và các bà vợ vua Tự Đức không theo được phải ở lại Tân Sở, sau đó về ở lăng Tự Đức.

         Đoàn hộ tống vua đi dọc theo biên giới Lào tới Sepon, Mường Van. Sau đó, đoàn dựng trại ở tổng Ban Tống (Lào), phía bắc suối Nậm Hon. Tháng 10.1885, vua Hàm Nghi về nước theo đường Quy Hợp (Hương Khê, Hà Tĩnh).

         Ở đây, vua được tăng cường 500 lính. Đoàn của vua đã ở đồn miền núi này một tháng. Lúc này nổ ra khởi nghĩa Phan Đình Phùng ở Đức Thọ. Quân Pháp tấn công quân khởi nghĩa, tiến về chỗ trú của vua. Một trận đánh lớn đã diễn ra. Sau một ngày đêm quân Pháp không chiếm được đồn. Nhận thấy không thể chống cự lâu dài được, cuối năm 1885, vua đã rời đồn chạy về phía Quy Đạt (Quảng Bình), bắt đầu thời kỳ gian khổ ở núi rừng miền Tây...

 

Nhà vua từ Hương Khê đi đến làng Trành (làng Kiên Trinh) thuộc tổng Thanh Lạng. Cai tổng và các chức sắc bô lão các làng lân cận đều đến yết kiến vua. Lúc đó vua còn rất trẻ, vẻ mặt hiền dịu và trang nghiêm, mặc chiếc áo vàng, ngồi trên một chiếc kiệu chạm trổ hình rồng. Bốn người khiêng vua. Có bốn sĩ quan tuỳ tùng luôn luôn bên cạnh. Tiếp theo là 2 tướng Tôn Thất Thuyết và Trần Soạn (Đề Soạn) và 100 lính trang bị gươm súng. Đoàn hộ tống khiêng 50 thùng lớn (có thể những vật quý), 3 voi, 5 ngựa. Một người địa phương tên là Trương Quang Ngọc, chức quan tứ phẩm đã dẫn 8 dân quân theo vua, được nhà vua rất tin tưởng. Nhà vua ở nhà ông Đinh Hiền. Sau 3 ngày, vua đi về phía Đồng Nguyên (Cổ Liêm) cách Quy Đạt 10km theo hướng đông nam, nhưng nhận thấy địa điểm này khó phòng ngự nên đoàn quay ngược lên xóm Lìm (làng Ba Nương) ở Khe Rục (chi lưu sông Nan) gọi là vùng Khe Ve, cách Quy Đạt khoảng 5km ở tây bắc, đóng tại nhà ông Đinh Xớn.

8 ngày sau, nghe tin quân Pháp từ Bãi Đức (Hà Tĩnh) đã đến làng Trành, đoàn quân của vua di chuyển đến Ma Rai (tổng Kim Linh). Ngày hôm sau, quân Pháp đến Ba Nương, liền bị quân của Hiệp quản Trương Quang Ngọc tấn công, giết chết một đại uý Pháp, buộc địch quay về Bãi Đức... Sau chiến thắng, vua Hàm Nghi được hộ tống đến xóm Khe Ve (làng Thanh Thuyền, tổng Thanh Lạng) và quyết định cư trú tại Cửa Khe. Đoàn quân dựng luỹ nhỏ bằng đất nện cao 2 thước. Các làng trong vùng rất nhiệt tình cung cấp binh lương.

Tháng giêng năm 1886, một trận đánh giữa đội bảo vệ vua và quân Pháp diễn ra ở Cửa Khe một ngày liền, làm một trung uý cùng 3 lính Pháp bị chết tại trận, 8 tên khác bị thương. Sau thất bại, quân Pháp phải rút về Vinh. Ít lâu sau, quân Pháp chia làm 2 toán, tổ chức bí mật bao vây vua ở Cửa Khe. Đoàn hộ tống vua bị bất ngờ bèn bỏ tất cả gươm súng, rương, hòm... để thoát thân. Trương Quang Ngọc đưa vua Hàm Nghi chạy vào rừng. Các tướng Tôn Thất Thuyết và Trần Soạn chạy theo đường Quy Đạt, sau đó sang Trung Quốc cầu viện nhưng thất bại và mất ở Trung Quốc năm 1913. Khi quân Pháp rút đi để tăng viện cho Bắc kỳ, khoảng tháng 2.1886, vua Hàm Nghi lại bí mật về ở Quy Đạt. Nhân dân vùng Tuyên Hoá, Ba Đồn cung cấp lương thực, thực phẩm cho vua. Quân pháp lùng sục 10 ngày không tìm thấy!

Tháng 4.1886, Thượng thư Nguyễn Phạm Tuân đã đến xóm Thác Đài (làng Cổ Liêm), thượng nguồn sông Nan với khoảng 30 lính. Ông cùng với Tôn Thất Đàm (con trai Tôn Thất Thuyết) dựng trại quân, như là văn phòng của Cần Vương có nhiệm vụ nhận giấy tờ, thư tín từ các thủ lĩnh Cần Vương trong nước, chuyển cho nhà vua xem.

Vào tháng giêng năm Đinh Hợi (1887), quân Pháp trở lại Quy Đạt với chiến thuật “phủ dụ, thu phục”, để bắt vua Hàm Nghi. Ngày 16.3, tá sự Nguyễn Phạm Tuân và đồng sự bị thương và bị bắt ở Thác Đài và bị đưa về Minh Cầm xử tử. Sau chiến dịch “phủ dụ dân” của Pháp, lúc này ở bên cạnh nhà vua chỉ có Trương Quang Ngọc và con trai út của Tôn Thất Thuyết là Tôn Thất Thiệp. Bọn Pháp tìm cách mua chuộc Ngọc, gửi cho Ngọc thuốc phiện, các thứ bàn đèn và hứa với Ngọc những chức tước khi anh ta giao nộp vua. Thế là Ngọc “ăn bã”, đã ám sát Tôn Thất Thiệp và giao nhà vua trẻ cho người Pháp vào ngày 14.11.1888 tại Thanh Lạng (Minh Hoá). 7 năm sau, Ngọc bị nghĩa quân Phan Đình Phùng chặt đầu ngay chỗ mà vua Hàm Nghi bị bắt! 

Thế là sau 3 năm 4 tháng (5.7.1885 - 14.11.1888), cuộc xuất bôn chống Pháp của vua Hàm Nghi thất bại. Ngày 26.11.1888, nhà vua bị đưa xuống tàu đày biệt xứ tại Alger và mất ở Alger năm 1913. Nhưng chiếu Cần Vương và ý chí của vua Hàm Nghi đã khơi dậy tinh thần chống Pháp trong cả nước, mãi mãi là điểm son trong lịch sử dân tộc!


 
Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết

  Ý kiến bạn đọc

  Ẩn/Hiện ý kiến

Mã chống spam   
 

Những tin cũ hơn

Thời điểm thi THPT QG

Bạn muốn tổ chức thi thử vào THPT QG khi nào?

Top