Văn hoá Hoà Bình ở Đông Nam Á

 - Người đăng bài viết: nguyễn thị linh  - Chuyên mục :  Đã xem: 14 

Dạy tốt giới thiệu tới bạn đọc bài viết Văn hoá Hoà Bình ở Đông Nam Á.

 

Văn hoá Hoà Bình ở Đông Nam Á

Trong giai đoạn tiền sử, cách đây khoảng một vạn năm đã có những thay đổi quan trọng, đánh dấu bước tiến mới trong lối sống con người. Loài người bước vào thời đại đá mới. Thời đại đá mới được đặc trưng bởi những tiến bộ về phương thức sản xuất, sự biến đổi về môi trường sinh thái. Cuộc “Cách mạng đá mới” là một trong những bước tiến lớn của con người diễn ra trong sự thay đổi môi trường ở cuối Pleistocene và Holocene sớm – trung. Tại mỗi khu vực sự biến đổi này là do những nguyên nhân khác nhau.

Trong quá trình phát triển của thời tiền sử Đông Nam Á, cần lưu ý một đặc điểm là mối quan hệ giữa kỹ thuật, loại hình công cụ và phương thức sinh hoạt rất lỏng lẻo10, loại hình công cụ cùng với kỹ nghệ chế tạo công cụ mang tính “trường tồn” và “liên đại”. Vì vậy, mỗi một kỹ thuật mới xuất hiện tức là sự kiện đánh dấu sự thay đổi về chất trong phương thức kiếm sống.

Khu vực Đông Nam Á từ lâu đã được một số nhà khoa học coi là một trong những trung tâm phát sinh và phát triển nghề trồng lúa. N.I. Vavilov sau khi tiến hành điều tra trên quy mô toàn thế giới về lịch sử thuần hoá cây trồng đã chỉ ra 9 trung tâm, trong đó Đông Nam Á (được gọi là Trung tâm Ấn Độ – Mã Lai). Theo đó, Đông Nam Á là một cái nôi phong phú bậc nhất và là nơi thuần dưỡng cây lúa. Tác giả C.O. Sauerch cũng cho rằng Đông Nam Á là nơi phát sinh trồng trọt sớm vì ở đó là một vùng nhiệt đới với tính đa dạng cao về động thực vật cũng như cảnh quan địa mạo sinh thái mà không có một nơi nào sánh kịp. Địa hình cảnh quan đa dạng: Sườn dốc vùng núi, cao nguyên, thung lũng, đồng bằng châu thổ, duyên hải – đảo đã buộc con người phải có những biện pháp – chiến lược thích nghi khác nhau về Nước – Phân – Cần – Giống… tạo ra các kiểu nông cụ, các loại giống, các loại ruộng khác nhau. Tuy vậy, những tài liệu khảo cổ học trực tiếp (được biết cho tới nay) không ủng hộ giả thiết về niên đại quá sớm của việc trồng lúa ở Đông Nam Á.

Bước sang thời kỳ Toàn Tân (Holocene) ở Đông Nam Á vẫn tiếp tục hai truyền thống chế tác công cụ đá từ thời đá cũ (còn được gọi là hai con đường đá mới hoá). Trong khi nền văn hoá Hoà Bình phân bố chủ yếu trên lục địa và một phần phía đông bắc Sumatra, thì ở Đông Nam Á hải đảo phổ biến những kỹ nghệ có đồ đá nhỏ. Đó là kỹ nghệ Toalean ở Célèbes, kỹ nghệ Obsidien phân bố trên các đảo Sumatra, Java, Timor…

Môi trường sinh sống chính của cư dân văn hoá Hoà Bình thời đá mới sơ kỳ là thung lũng – hang động, mặc dù không phải là họ không cư trú ngoài trời, nhưng cho đến nay, rất ít những di tích cư trú ngoài trời được nhận biết ở Đông Nam Á lục địa. Ở Sumatra, những di tích của văn hoá này lại là những cồn sò điệp ngoài trời. Cư dân văn hoá Hoà Bình đã khai thác một cách tổng hợp và đa dạng nguồn lợi thiên nhiên, từ núi rừng đến ven biển, hải đảo… với địa bàn chính là vùng núi và trước núi. Trong giai đoạn này dân số tăng nhanh, môi trường hoạt động và sinh sống giảm. Điều đó đã tạo nên một áp lực khiến dẫn đến sự ra đời của một quá trình sáng tạo mới. Trong môi trường sinh thái thung lũng, các cộng đồng cư dân trên cơ sở những thành tựu văn hoá, những kinh nghiệm tích luỹ được buộc phải có một quá trình thích nghi mới. Bên cạnh việc hái lượm, săn bắt dần bước vào trồng trọt và chăn nuôi ở các thung lũng hay trên các sườn núi đá vôi. Thung lũng là cái nôi của cách mạng đá mới ở Việt Nam và Đông Nam Á lục địa, là bàn đạp cho một nền văn minh nông nghiệp ở châu thổ. Hệ sinh thái thung lũng Hoà Bình đã được GS. Trần Quốc Vượng khái quát theo trật tự: Suối – Bãi bồi – Tung lũng – Thềm cổ – Đồi trung sinh hay Miền trước núi – núi đá vôi karst (với các hang động mái đá). Như vậy Trường sinh hoạt của chủ nhân văn hoá Hoà Bình rộng hơn nhiều so với quan điểm trước đây về một nền văn hoá hang động, và không chỉ bó hẹp ở Hang – Suối, mà là ở các địa hình khác nhau, với nhiều “lối” (ways) sinh hoạt khác nhau. Suối và các giải đá vôi là nơi cung cấp một lượng thức ăn đáng kể, đó là các loài nhuyễn thể, gồm ốc suối và ốc núi, trai, trùng trục…. Ngoài các loại thức ăn trên, người Hoà Bình còn biết săn bắt các loại thú rừng. Trong gần một nửa số hang động cư trú đã tìm thấy dấu tích thức ăn động vật là những xương răng động vật có vú. Đó là những động vật sống trong môi trường rừng núi nhiệt đới, khí hậu nóng ẩm, nhiều mưa với thảm thực vật đa dạng. Theo các nhà cổ sinh học, quần thể động vật Hoà Bình nhìn chung không khác hiện nay, trừ họ tê giác. Đa phần phế tích thức ăn là từ các loài động vật nhỏ như chuột, chó, gà lôi… Nguồn thức ăn thực vật chiếm một vị trí đáng kể, trong các di tích của văn hoá này đã tìm thấy 22 loài bào tử và trên 40 loài phấn hoa.

Những cộng đồng cư dân văn hoá Hoà Bình sống tập trung ở Đông Nam Á lục địa, đặc biệt là khu vực miền bắc Việt Nam, nhưng họ có thể cũng chiếm lĩnh nhiều không gian sống khác. Dù sống trong các môi trường cảnh quan đa dạng và có những định hướng sinh thái khác nhau như vùng môi trường núi đá vôi, bên sông suối; vùng môi trường bờ biển; vùng đồi bậc thềm thấp nằm phía sau các đồng bằng ven biển, thì cư dân cổ đã chế tác và sử dụng bộ công cụ đá khá giống nhau, với một số loại hình cơ bản như công cụ ghè đẽo một mặt hình bầu dục, hình tròn… (Sumatralith), rìu ngắn… Chính vì sự phân bố trên một địa bàn quá rộng của một truyền thống kỹ thuật chế tác công cụ chung, nên một số tác giả cho rằng việc sử dụng khái niệm văn hoá đối với Hoà Bình là không thích hợp. Gorman, nhà khảo cổ học người Mỹ đã mượn khái niệm “Phức hợp kỹ thuật (technocomplex)”của Clarke để làm rõ quan niệm của mình là văn hoá Hoà Bình không phải là một văn hoá duy nhất mà là nhóm văn hoá. GS. Hà Văn Tấn dựa vào tiêu chí coi kỹ thuật Sumatralith là đặc trưng cơ bản của Hoà Bình, đã cho rằng có một văn hoá Hoà Bình dạng Bắc (gồm Việt Nam, Lào và Thái Lan) và một văn hoá Hoà Bình dạng Nam (gồm bán đảo Mã Lai và bờ bắc Sumatra). Tại những khu vực khác có những kỹ nghệ chế tác công cụ cuội có những nét tương đồng với văn hoá Hoà Bình nên được gọi là kỹ nghệ Hoà Bình tức Hoabinhoid technology11.

Người Hoà Bình sống chủ yếu bằng săn bắt (bắn) và hái lượm (cũng vẫn theo phổ rộng) và vai trò vượt trội của hái lượm. Phương thức sống của cư dân Hoà Bình đã được nhiều nhà nghiên cứu chú ý. Vấn đề đáng quan tâm nhất là sự nảy sinh của nông nghiệp trong lòng văn hoá Hoà Bình. Một vài học giả đã đưa ra giả thuyết về sự thuần dưỡng thực vật trong văn hoá Hoà Bình.

Các sử gia nông nghiệp thường cho rằng ở Đông Nam Á và Việt Nam có hai thời kỳ nông nghiệp: Nông nghiệp trồng củ và tiếp sau là nền Nông nghiệp trồng hạt. Ở đầu thập kỷ 60, sau khi đào Hang Ma (Spirit Cave) ở Thái Lan (một hang động văn hoá Hoà Bình) và tìm thấy một số hạt cây – hoá thạch lớn (macro fossiles), Chester Gorman nêu lên giả thuyết Văn hoá Hoà Bình là văn hoá nông nghiệp sớm nhất Đông Nam Á. Ý kiến này được sự hậu thuẫn và ủng hộ của W.Solheim II, người coi phát hiện này có ý nghĩa rất lớn vào thập kỷ 60, khi ông cho rằng Đông Nam Á là vùng phát sinh nông nghiệp sớm nhất thế giới, cũng như, với Non Nok Tha, rồi sau này là Bản Chiang, thời đại đồ đồng (khoảng 6.000 năm) cũng như thời đại đồ sắt (hơn 3.000 năm) xuất hiện ở Đông Nam Á cực sớm. (Những niên đại này đã bị nhiều ý kiến nghi ngờ). Chester Gorman bác bỏ lý thuyết hai giai đoạn và cho rằng nông nghiệp phát sinh ở vùng chân núi (piemont) với có thể đồng thời hay trước sau không đáng kể việc trông khoai nước cùng với việc trồng lúa nước.

Ở Việt Nam, tác giả Nguyễn Việt đã rất chú trọng đến nghề trồng trọt thời tiền sơ sử. Bên cạnh dó, GS. Đào Thế Tuấn cũng đã nêu ra luận điểm quan trọng về sự phát sinh nghề trồng lúa nước từ vùng thung lũng và sau đó nó diễn tiến theo hai hướng: hướng đi ngược lên đồi và các sườn núi thành nghề trồng lúa khô ở nương rãy, hướng đi xuống đồng bằng trở thành nghề trồng lúa nước đại trà và cộng với áp lực dân số, từ việc trồng lúa nếp ban đầu, người ta đã tiến tới việc trồng lúa tẻ, hay nói cách khác, đã tẻ hoá nghề trồng lúa nước ở vùng châu thổ Bắc Bộ. Dựa vào những thóc gạo cháy ở hang Xóm Trại, hai tác giả trên đã cho rằng nghề nông trồng lúa nước đã phát sinh trong văn hoá Hoà Bình. Tuy vậy, những hạt thóc gạo cháy này được tìm thấy trong một địa tầng xáo trộn nghiêm trọng, và cho tới nay, đây cũng là địa điểm duy nhất tìm được gạo cháy trong hàng trăm di tích Hoà Bình. Bộ công cụ đá của văn hoá này cũng chưa thể hiện rõ nét tính chất nông cụ liên quan đến trồng trọt.

Gần đây, người ta đã tìm thấy hạt và quả của nhiều loài cây thuộc họ rau đậu và họ bầu bí, được coi là đã thuần dưỡng trong một số di chỉ văn hoá Hoà Bình. Vì vậy đã có một nền nông nghiệp sơ khai. Cuộc sống định cư tương đối đã tạo nên tiền đề thúc đẩy cho sự nảy sinh nghề trồng trọt. Tuy nhiên, vai trò của nó còn rất nhỏ bé so với các hoạt động truyền thống hái lượm và săn bắt (bắn). Cũng có những ý kiến khác về sự nảy sinh nghề trồng trọt, vì theo những phân tích di tích thực vật đã tìm thấy ở Việt Nam, Thái Lan… thì các chứng cứ về sự thuần dưỡng thực vật trong văn hoá Hoà Bình vẫn chưa tỏ ra đủ tin cậy12. Thống kê bước đầu cho thấy trong một số di tích Hoà Bình có 50 loại bào tử phấn hoa khác nhau. Trong đó chưa thấy loại đã được con người thuần hoá, tuy vậy đã có sự khác biệt giữa thành phần phổ phấn hoa của văn hoá Hoà Bình và văn hoá Sơn Vi13.

Hoạt động hái lượm phát triển cùng với việc chiếm / ứng trường sinh thái đa dạng tuy vậy đã tạo điều kiện cho cư dân văn hoá Hoà Bình có được những tri thức ban đầu về trồng trọt. Theo một số học giả như các giáo sư Hà Văn Tấn, Trần Quốc Vượng…, thì đây được coi là màn dạo đầu (prelude) của cuộc “Cách mạng đá mới”.

Trong những nơi ở của người Hoà Bình, sự tích tụ văn hoá thường rất dày, với nhiều tầng văn hoá. Trong các tầng văn hoá đó chủ yếu là vỏ các loài nhuyễn thể, tàn tích xương động vật, than tro, di cốt người và di vật đá. Trong nhiều di chỉ các nhà khoa học còn tìm được vết tích bếp lửa, mộ và di cốt người, dấu tích nghệ thuật…

Cư dân văn hoá Hoà Bình đã hoàn thiện kĩ thuật chế tác đá. Họ khai thác nguyên liệu tại chỗ như cuội sông suối. Tổ hợp công cụ đá cho thấy nét nổi bật của kỹ nghệ đồ đá ở đây là kỹ thuật ghè đẽo và tu chỉnh tinh tế nhằm tạo ra những công cụ hoàn chỉnh đã chiếm địa vị chủ đạo. Bên cạnh kỹ thuật truyền thống ghè bổ chặt, kỹ thuật mài đã xuất hiện tuy chưa phổ biến. Sự tồn tại của những công cụ mài lưỡi cũng đánh dấu một bước phát triển cao hơn của trình độ chế tác đá của người xưa. Bên cạnh chất liệu đá, thời kỳ này cư dân đã chế tác và sử dụng công cụ được làm từ xương, gỗ, sừng, tre…

Giáo sư khảo cổ học Hà Văn Tấn đã lưu ý một đặc điểm là dù sống ở các môi trường cảnh quan khác nhau, cư dân văn hoá Hoà Bình có bộ công cụ đá khá giống nhau. Tại Đông Nam Á lục địa, có một văn hoá Hoà Bình mang tính thống nhất với một số dạng địa phương. Tổ hợp công cụ đá văn hoá Hoà Bình phong phú và ổn định trong một số loại hình đặc trưng, đặc biệt là loại công cụ cuội. Tính đa dạng được thể hiện trong cơ cấu thức ăn, sự tuyển lựa nơi cư trú… Như vậy, vẫn cùng chung một khung cảnh sống, mà cách thu lượm sản vật thiên nhiên của người cổ đã thích nghi, ứng biến với từng điều kiện cụ thể của môi trường sinh thái. Nói một cách khoa học và theo kiểu sinh thái học nhân văn, thì cư dân cổ Hoà Bình có “Trị giá sinh thái” (Value écologique) cao – có khả năng thích ứng với nhiều loại môi trường tự nhiên.

Cư dân thời đại đá mới có một tri thức phong phú về tự nhiên, những hang động và những nơi cư trú khác của họ đều là những địa điểm thuận lợi cho sinh hoạt và sản xuất. điều này cho thấy con người thời bấy giờ đã biết thích nghi một cách hài hoà với tự nhiên.

Thời kỳ này cũng để lại những dấu vết của nghệ thuật như những hiện vật bằng xương có vết khắc hình cá, hình thú và những hình vẽ trên vách hang, những mảnh thổ hoàng, những đồ gốm trang trí hoa văn với những đồ án phức tạp hay tô màu… những hình thức nghệ thuật đầu tiên này mang tính ước lệ. Con người giai đoạn này học vẽ, học đếm, xây dựng các sự lý giải đầu tiên về thế giới và bản thân mình. Đây được coi là những bước đầu tiên trong sự hình thành con người văn hoá. Người Hoà Bình, theo GS. Hà Văn Tấn có lẽ đã có những biểu hiện về nhịp điệu, thể hiện bằng những nhóm vạch ba vạch một trên các hòn cuội tìm thấy trong hang động. Dù mới chỉ là giả thuyết về số đếm, cách tính ngày… những di vật tìm thấy cũng cho thấy một bước phát triển tư duy của người nguyên thuỷ. Tư duy về thời gian vũ trụ còn được thể hiện bằng những hoa văn, kí hiệu biểu thị mặt trời như hình tròn, hình chữ S… vẽ trên đồ gốm. Có thể bấy giờ đã bắt đầu hình thành một loại nông lịch sơ khai.

Quan niệm về cái chết, về đời sống khác sau chết khá đa dạng và phức tạp được thể hiện qua nhiều phương thức xử lý xác chết và táng thức khác nhau và cũng thể hiện tính khu biệt địa phương rõ nét.


 
Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết

  Ý kiến bạn đọc

  Ẩn/Hiện ý kiến

Mã chống spam   

Những tin mới hơn

 

Những tin cũ hơn

Thời điểm thi THPT QG

Bạn muốn tổ chức thi thử vào THPT QG khi nào?

Top