Nguyễn Phúc Ánh (1780-1802)

 - Người đăng bài viết: nguyễn thị linh  - Chuyên mục :  Đã xem: 62 

Trung tâm dạy tốt giới thiệu tới bạn đọc thông tin về chúa Nguyễn Phúc Ánh (1780-1802). Mời bạn đọc tham khảo.

 

                                         Nguyễn Phúc Ánh (1780-1802)
 
Nguyễn Phúc Ánh có tên huý là Chủng và Noãn, sinh năm Nhâm Ngọ (1762), con thứ ba của Nguyễn Phúc Luân. Mẹ Nguyễn Ánh là con gái Diễn Quốc Công Nguyễn Phúc Trung (có lẽ Phúc Trung được ban quốc tính), người làng Minh Linh, phủ Thừa Thiên. Khi Nguyễn Phúc Luân bị quyền thần Trương Phúc Loan phế truất rồi bắt giam năm Ất Dậu (1765), Nguyễn Ánh còn nhỏ (4 tuổi) đang ở nhà riêng. Năm Quý Tỵ (1773), Tây Sơn khởi nghĩa, Nguyễn Phúc Ánh 13 tuổi, theo chúa Phúc Thuần vào Quảng Nam. Mùa thu năm Ðinh Dậu (1777), Nguyễn Phúc Thuần tử trận, Nguyễn Phúc Ánh một mình chạy thoát ra đảo Thổ Chu. Một tháng sau, Phúc Ánh tập hợp được một đội nghĩa dũng, binh sĩ mặc toàn đồ tang, quyết tử đánh chiếm lại Sài Gòn. Giúp Nguyễn Phúc Ánh, lúc đó mới 17 tuổi, có Ðỗ Thanh Nhân và một số tướng lĩnh khác, Ánh ra sức xây dựng lực lượng, đắp luỹ đất ở phía Tây sông Bến Nghé, đóng cọc gỗ ở các cửa cảng để đề phòng ngừa tấn công của Tây Sơn, Ánh đã có 50 chiến thuyền.
 
Năm Canh Tý (1780) Phúc Ánh chính thức lên ngôi vương ở Sài Gòn, dùng ấn "Ðại Việt quốc Nguyễn chúa vĩnh trấn chi bảo" làm ấn truyền quốc, niên hiệu thì vẫn theo chính sóc nhà Lê.
 
Tháng 3 năm Nhâm Dần (1782), Nhạc và Huệ kéo quân vào đánh Sài Gòn. Phúc Ánh chống lại ở cửa biển nhưng yếu sức đành thua trận. Phía Phúc Ánh lần này có cả sĩ quan Pháp tử trận. Ánh phải cưỡi thuyền nhỏ chạy ra biển, đến trú ở đảo Phú Quốc. Ðại quân của Tây Sơn rút về Quy Nhơn, tháng 8 năm Nhâm Dần (1782), Ánh lại thu thập tàn quân trở lại Gia Ðịnh.
 
Tháng 2 năm Quý Mão (1783) Nguyễn Huệ và Nguyễn Lữ lại kéo vào đánh cửa biển Cần Giờ, quân Nguyễn tan tác. Tôn Thất Mân, Dương Công Trừng bị bắt hoặc chết, Chu Văn Tiếp bỏ chạy. Nguyễn Ánh cùng với 5,6 người tuỳ tùng, 100 lính chạy về Ba Giồng. 
 
Tháng 4 năm đó, bị Nguyễn Huệ đuổi gấp, Ánh phải cưỡi trâu lội qua sông thoát thân rồi đem mẹ, vợ con ra Phú Quốc. Thuỷ quân Tây Sơn truy đuổi đến tận đảo. Tình thế cực kỳ nguy khốn song nhờ cái cớ Lê Phúc Ðiển mặc áo ngự đứng đầu thuyền giả làm Nguyễn Vương đánh lạc hướng Tây Sơn, Nguyễn Ánh chạy ra đảo Côn Lôn. Phò mã Trương Văn Ða liền kéo thuỷ quân Tây Sơn ra vây chặt 3 vòng quanh đảo, chúa Nguyễn như "cá nằm trên thớt", bỗng một trận bão lớn làm thiệt hại nặng thuỷ quân Tây Sơn, Nguyễn Ánh thoát được đến hòn Cổ Cốt, sau lại về Phú Quốc. Thất bại liên tiếp, Nguyễn Ánh phải trao con là Hoàng tử Cảnh mới 4 tuổi cho Bá Ða Lộc làm con tin sang cầu viện người Pháp. Rồi Nguyễn Ánh từ biệt mẹ và vợ con đem quân chạy ra ngoài cõi. Tháng 2 năm Giáp Thìn (1784), Nguyễn Ánh đem theo cả mẹ và vợ con chạy sang Xiêm nương thân và cầu viện. Mùa hè năm đó, Nguyễn Ánh dẫn quân Xiêm gồm 2 vạn thuỷ quân và 300 chiến thuyền kéo về Sài Gòn, Gia Ðịnh. Nhờ có viện binh, Nguyễn Ánh chiếm lại Ba Xắc, Trà Ôn, Mân Thít, Sa Ðéc...
 
Tháng 12 năm Giáp Thìn (1784), Nguyễn Nhạc được tin cấp báo, tức thì sai Nguyễn Huệ đem quân vào cứu Sài Gòn. Quân Tây Sơn mai phục ở Rạch Gầm và Xoài Mút (tỉnh Ðịnh Tường), rồi dụ quân Xiêm vào trận. Quân Xiêm đại bại, Chiêu Tăng, Chiêu Sương cùng vài nghìn sĩ tốt theo đường núi rút chạy về nước. Nguyễn Ánh đi Trấn Giang rồi sang Xiêm, xin trú ở Long Kỳ (người Xiêm gọi là Ðồng Khoai, ở ngoại thành Vọng Các) sai người đón mẹ và vợ con đến. Quân Nguyễn nhờ đất Xiêm mà sản xuất, trồng cấy đóng chiến thuyền, tích trữ lương thực, thu nạp quân sĩ, đợi thời cơ. Lưu trú trên đất Xiêm, Nguyễn Ánh đã giúp vua Xiêm đánh bại Diến Ðiện... Vua Xiêm thán phục, đem vàng lụa đến tạ ơn và hứa giúp Nguyễn Ánh lấy lại Gia Ðịnh. Sau trận đánh Diến Ðiện, Nguyễn Ánh còn giúp vua Xiêm đánh lại quân Chà Và. 
 
Năm Ðinh Mùi (1787), lực lượng hùng mạnh của Nguyễn Ánh lại được Bồ Ðào Nha giúp đỡ, vua Xiêm tỏ ra không bằng lòng. Biết vua Xiêm không giúp gì hơn, Nguyễn Ánh lặng lẽ rút quân về nước, dùng kế ky gián giết Phạm Văn Tham; đuổi Nguyễn Lữ chiếm lại Sài Gòn-Gia Ðịnh tháng 8 năm Mậu Thân (1788). Thế là trong khi Nguyễn Nhạc bất lực chỉ biết bo bo giữ Quy Nhơn, Nguyễn Huệ phải lo đối phó với tình hình Bắc Hà, đánh đuổi hơn 20 vạn quân Thanh, Nguyễn Ánh ở Gia Ðịnh nắm thời cơ chuẩn bị, củng cố lực lượng. Nguyễn Ánh còn sai sứ thần Phan Văn Trọng và Lâm Ðồ mang thư và 50 vạn quân lương sang giúp nhà Thanh. Năm Kỷ Dậu (1789), Hoàng tử Cảnh từ phương Tây về, Cảnh đi cùng Bá Ða Lộc sang Pháp cầu viện, lênh đênh trên biển và hải cảng các nước, hai năm sau mới đến Paris. Hoàng đế Pháp tiếp đãi theo vương lễ song chưa giúp gì được. Vì triều đình còn gặp khó khăn. Cảnh về Gia Ðịnh vừa đúng 4 năm đi xa. Hai sĩ quan Pháp ở lại phụng sự chúa, được Ánh đặt tên là Thắng và Chấn, cấp một nghìn quan tiền trao cho chức Cai đội.
 
Trên lãnh địa của mình, Nguyễn Ánh đã hết sức cố gắng nhanh chóng tăng cường binh lực và mọi mặt. Một loạt chính sách được ban hành: đạt quan điền tuấn chuyên lo việc làm ruộng, thi hành phép ngư binh ư nông, trai tráng khi cần là lính chiến, hết trận về làm ruộng, định lệ khuyến nông, đặt đồn điền... Nguyễn Ánh đặc biệt quan tâm đến phong thưởng và đãi ngộ tướng sĩ trận vong hoặc có công lao. Nguyễn Ánh đặt quan hệ tốt với các nước láng giềng, nhất là binh sĩ Xiêm nhằm tăng cường thanh thế. Ðối với Châu Âu đang giúp rập, Ánh hết sức ưu đãi. Tháng 9 năm Kỷ Mùi (1799) Bá Ða Lộc, giáo sĩ người Pháp, ân nhân của Nguyễn Ánh qua đời, Ánh cho cử hành tang lễ cực kỳ trọng thể. Thi hài được ướp thơm, quan tài bằng gỗ tứ thiết, chuyển từ Diên Khánh về Gia Ðịnh trong vòng hai tháng, làm đúng quốc tang, truy tôn là Thái phó Bi Nhu Quận công. 
 
Nguyễn Ánh vừa ra sức củng cố vừa phát triển lực lượng, tính từ năm 1792, Nguyễn Ánh bắt đầu mở các đợt tấn công ra Quy Nhơn theo chiến thuật "tằm ăn lá dâu" và theo từng mùa gió nồm: "Gặp nồm thuận thì tiến, vãn thì về; khi phát thì quân lính đủ, về thì tản ra đồng ruộng". Sau cái chết của Quang Trung, Nguyễn Ánh càng ráo riết thực thi chiến thuật trên. Năm Kỷ Mùi (1799), Nguyễn Ánh chiếm được Quy Nhơn, đổi thành Bình Ðịnh. Từ đó Nguyễn Ánh bắt đầu giành được thế áp đảo khiến Nguyễn Quang Toản non yếu, nội bộ lục đục không sao chống nổi. Sau khi Nguyễn Quang Toản mất vào tháng 7 năm Nhâm Tuất (1802), Nguyễn Ánh lên ngôi hoàng đế.

 


 
Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết

  Ý kiến bạn đọc

  Ẩn/Hiện ý kiến

Mã chống spam   

Những tin mới hơn

 

Những tin cũ hơn

Thời điểm thi THPT QG

Bạn muốn tổ chức thi thử vào THPT QG khi nào?

Top