Ngoại giao thời nhà Hồ

 - Người đăng bài viết: nguyễn thị linh  - Chuyên mục :  Đã xem: 12 

Trung tâm Dạy tốt giới thiệu tới bạn đọc bài viết Ngoại giao thời nhà Hồ.

 

Ở Trung Quốc, năm 1367, Chu Nguyên Chương lên ngôi vua khởi lập triều Minh. Tháng tư năm Mậu Thân (1368), nhà Minh cho sứ Dịch Tế Dân sang thăm nước ta. Vua Trần cho thị lang Đào Văn Đích sang Trung Quốc đáp lễ.

Năm 1374, nhà Trần xuống chiếu cho quân dân trong nước không được mặc áo kiểu người phương Bắc, tức không được mặc áo kiểu Trung Quốc và không được bắt chước tiếng nói của các nước Chiêm Thành, Ai Lao.

Từ năm 1377, nhà Minh mưu đồ đánh chiếm nước ta, hạch sách đủ điều, bắt cống nộp nhiều thứ: nộp người, nộp lương thực, nộp súc vật và nộp một số quan hoạn.

Năm 1384, nhà Minh đánh Vân Nam, đòi ta cấp lương thực, đưa lên Vân Nam cho chúng. Nhà Trần phải nhận lời. Các quan lại làm việc vận chuyển lương thực lên huyện Thủy Vĩ, giáp Vân Nam, nhiều người chết vì lam chướng.

Năm 1385, nhà Minh đòi nhà Trần phải nộp 20 nhà sư. Yêu cầu hạch sách của chúng ngày càng tăng.

Năm 1386, chúng đòi nhà Trần nộp cây giống các loại cây: cau, vải, mít, nhãn. Nhà Trần phải làm theo, cho người mang cây giống sang Trung Quốc. Nhưng cây không chịu được rét, đi nửa đường chết khô cả. Nhà Minh cho người sang đòi ta nộp 50 con voi và mở đường cho quân Minh đi qua vào đánh Chiêm Thành. Nhà Trần phải đặt trạm cấp lương, cỏ suốt từ Nghệ An tới Vân Nam để đưa 50 con voi cho nhà Minh.

Năm 1395 ở Trung Quốc có cuộc khởi nghĩa của người thiểu số ở miền nam Quảng Tây. Triều đình nhà Minh mang quân đi đánh dẹp, cho người sang đòi ta cấp 5 vạn quân, 50 con voi, 50 vạn hộc lương đưa lên biên giới giáp Quảng Tây. Nhà Trần chỉ cấp một ít lương cho người tải đến Đồng Đăng (Lạng Sơn) rồi trở lại.

Nhà Minh lại cho sứ sang đòi ta nộp sư, nộp đàn bà và đàn ông đã thiến. Nhà Trần cho một vài người.

Ở ta, cuối tháng hai năm Canh Thìn (1400), Hồ Quý Ly lên làm vua lập nhà Hồ thay nhà Trần. Hồ Quý Ly là người rất yêu nước và rất tự hào về đất nước mình. Khi còn làm quan với nhà Trần, có người Trung Quốc hỏi ông về phong tục nước Nam. Ông làm một bài thơ chữ Hán, trả lời:

Nguyên văn chứ Hán là:

Đáp Bắc nhân vấn An Nam phong tục

Dục vấn An Nam sự
An Nam phong tục thuần
Y quan Đường chế độ
Lễ nhạc Hán quân thần
Ngọc ưng khai tân tửu
Kim đao nghiễn tế lân
Niên niên nhị tam nguyệt
Đào lý nhất ban xuân.

Tạm dịch:

Muốn hỏi nước Nam ư
Nước Nam phong tục thuần
Áo quần như thời Đường
Lễ nhạc giống thời Hán
Bình ngọc rót rượu mới
Dao vàng mổ cá ngon
Hàng năm vài ba tháng
Đào mận suốt mùa xuân.


Khi Hồ Quý Ly làm vua, "ông lo làm thế nào có được 100 vạn quân để chống giặc Bắc" (Đại Việt sử ký toàn thư, bản dịch đã dẫn ... ). Tuy vậy ông vẫn giữ quan hệ bình thường với nhà Minh. Đầu năm 1401, Hồ Quý Ly cho sứ sang triều Minh. Nhưng Minh hạch sách ngày càng nhiều. Sử cũ ghi rằng: "Bấy giờ sứ nước Minh đi lại liên tiếp ở đường, có người yêu sách, có người trách hỏi. Hán Thương (Hồ Hán Thương là con thứ Hồ Quý Ly) sai người tùy phương cứu giải, vất vả về việc ứng tiếp" (Đại Việt sử ký toàn thư, bản dịch đã dẫn ... ). Khi trước, nhà Minh bắt nhà Trần nộp một số đàn ông đã thiến để chúng dùng làm nội quan, tức quan hoạn, phục vụ chúng, nay cho bọn hoạn quan này đi sứ về Việt Nam để bọn chúng có điều kiện thăm hỏi thân thuộc họ hàng và bí mật dặn thân thuộc họ hàng rằng: khi quân Minh sang, thì thân thuộc họ hàng tập hợp lại, dựng cờ làm nội ứng, cờ ghi rõ là thân thuộc của nội quan nào. Việc tiết lộ, thân thuộc những tên nội quan này đều bị Hồ Quý Ly xử tội.

Năm 1404, nhà Minh ngang ngược cho người sang trách Hồ Quý Ly là đã nhận hai con voi của Chiêm Thành tặng. Hồ Quý Ly cho đem hai con voi sang cho nhà Minh.

Đáp lại nhà Minh cho một sứ giả sang ta. Tên này ngạo nghễ, hống hách, tác oai, tác quái, đánh đập các quan quân đi đón tiếp, hộ tống. Sứ phải tới Tây Kinh ở Thanh Hóa, vì nhà Hồ đóng đô ở đây. Hành trình từ Thăng Long vào Tây Kinh thường là 12 ngày. Viên sứ này tên là Lý Ỷ đòi phải đi nhanh trong 8 ngày. Khi đến nhà công giám, nơi tiếp sứ, Lý Ỷ đi xem hình thế khắp nơi. Khi hắn trở về Trung Quốc, Hồ Quý Ly thấy một số vấn đề cần giữ bí mật của nước mình có thể bị lộ, cho người đuổi theo giết đi, nhưng đuổi tới Lạng Sơn thì Lý Ỷ đã đi qua biên giới.

Cũng năm 1404, Hồ Hán Thương cho làm thuyền gỗ đóng đinh sắt cỡ lớn, "trên có đường sàn đi thông được để tiện chiến đấu” (Đại việt sử kỳ toàn thư, bản dịch, tập II, tr.239) dưới có nhiều mái chèo, mỗi mái chèo hai người chèo.

Năm 1405, nhà Minh cho sứ sang ép nhà Hồ cắt đất Châu Lộc ở Lạng Sơn cho Minh, Hồ Quý Ly cho Hoàng Hối Khanh làm cát địa sứ đi giải quyết vấn đề. Hoàng Hối Khanh cắt đất nhiều quá, đem tất cả 59 thôn ở Cổ Lâu nộp cho Minh, Hồ Quý Ly tức giận, trách mắng Hoàng Hối Khanh và cho người địa phương ngầm đánh thuốc độc giết những quan lại của Minh tới cai trị vùng này.

Biết thế nào vua quan nhà Minh cũng cho quân sang đánh cướp nước ta, Hồ Hán Thương cho một sứ bộ sang Minh xin giảng hòa. Nhà Minh giam giữ chánh sứ Phạm Canh, chỉ cho phó sứ Lưu Quang Đình về nước.

Mưu đồ xâm lược của nhà Minh đã rõ.

Đề phòng giặc xâm lược, năm 1405, nhà Hồ cho đắp thành Đa Bang ở gần Bạch Hạc (Việt Trì), đóng cọc chặn cửa sông Bạch Hạc để ngăn giặc từ phía Tuyên Quang kéo tới, đóng cọc ở cửa biển và những nơi xung yếu trên sông Cái. Hồ Hán Thương đặt bốn kho quân khí, tìm người giỏi nghề làm vũ khí tới làm việc.

Khoảng cuối năm 1405, Hồ Quý Ly triệu tập một hội nghị gồm các quan tại kinh đô và ngoài các lộ để bàn kế nên đánh giặc hay nên hàng. Ý kiến phân vân, người bàn đánh, kẻ bàn hàng. Tả tướng quốc Hồ Nguyên Trừng là con cả Hồ Quý Ly, nói thẳng: “Tôi không ngại đánh, chỉ sợ lòng dân có theo hay không theo mà thôi” (Đại Việt sử ký toàn thư, bản dịch, tập II, tr.222.)

Hồ Quý Ly thấy lời Hồ Nguyên Trừng nói là phải, nhưng không biết nên làm như thế nào.
Giữa tháng 11 năm l406, nhà Minh cho 80 vạn quân, theo hai đường Quảng Tây và Vân Nam đánh sang. Tháng 12 năm 1406, quân Minh tiến tới Bạch Hạc, đối diện với thành Đa Bang. Một tháng sau, thành Đa Bang thất thủ. Hai ngày sau khi thành Đa Bang thất thủ, giặc tiến vào chiếm đóng Thăng Long. Nhà Hồ thua giặc rất nhanh, vì không dựa vào sức dân, không động viên, tổ chức được nhân dân cùng đánh giặc. Mặc dù vậy, nhân dân vùng Kinh lộ căm thù giặc, đã tự động và tự nguyện xin ra trận đánh giặc. Sử cũ ghi: "Các quân nhân và đinh nam đều đến quân môn tự nguyện gắng sức lập công" (Đại Việt sử ký toàn thư, bản dịch đã dẫn, tr.250). Muốn chuyển thua thành thắng, nhưng không thể được nữa, nhà Hồ đã bất lực. Giữa năm 1407 , nhà Hồ sụp đổ.


 
Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết

  Ý kiến bạn đọc

  Ẩn/Hiện ý kiến

Mã chống spam   

Những tin mới hơn

 

Những tin cũ hơn

Thời điểm thi THPT QG

Bạn muốn tổ chức thi thử vào THPT QG khi nào?

Top