NGOẠI GIAO THỜI NGÔ - ĐINH

 - Người đăng bài viết: nguyễn thị linh  - Chuyên mục :  Đã xem: 18 

Trung tâm Dạy tốt giới thiệu tới bạn đọc bài viết về NGOẠI GIAO THỜI NGÔ - ĐINH

 

 

Sau khi đánh thắng quân Nam Hán, đầu năm 939, Ngô Quyền lên ngôi vua, cầm quyền trị nước, bỏ danh hiệu tiết độ sứ, dứt khoát cắt đứt quan hệ lệ thuộc các vương quyền phương Bắc. Ngô Quyền lập triều đình, đặt trăm quan (không rõ niên hiệu, tên hiệu là gì), sau này sách sử ghi là Ngô Vương. Về đối ngoại, Ngô Quyền không giao thiệp với Nam Hán mà ông vừa đánh cho đại bại và cũng không liên hệ với nước nào trong "Ngũ đại thập quốc" lúc ấy. Nhưng ông cho phép những người Trung Quốc chạy loạn được sang sinh cơ lập nghiệp ở lãnh thổ do mình cai quản. Ngô Quyền cũng tiếp nhận những tướng sĩ Trung Quốc bị thất bại trong nội chiến xin sang trú ngụ ở nước ta. Một số tướng sĩ Trung Quốc được Ngô Quyền thu dung cho làm việc tại triều hoặc tại các địa phương.

Ngô Quyền làm vua được 6 năm thì mất. Đáng lẽ con Ngô Quyền lên nối ngôi cha. Nhưng em vợ Ngô Quyền là Dương Tam Kha cướp ngôi vua. Một số quan lại, tướng sĩ của Ngô Quyền không chịu, nổi lên chống lại Dương Tam Kha, mỗi người cầm quân chiếm giữ một địa phương, lập thành giang sơn riêng, gây nên tình trạng cát cứ, trước còn ít, sau lên tới 12 sứ quân.

Dương Tam Kha làm vua được 6 năm. Tới năm 950, con của Ngô Quyền là Ngô Xương Văn cùng một số tướng cũ của Ngô Quyền nổi lên đánh úp, bắt được Dương Tam Kha. Năm sau (951), Ngô Xương Văn lên ngôi vua lấy hiệu là Nam Tấn Vương. Nhưng nạn sứ quân cát cứ các địa phương vẫn không xóa bỏ được mà ngày càng tăng. Trước tình hình trong nước rối ren, sợ nước ngoài xâm lược, năm 954 Ngô Xương Văn cho sứ sang giao hảo với Nam Hán . Vua Nam Hán lúc ấy là Lưu Thanh cho ngay sứ sang nhận ta là phiên thần, lại phong chức tiết độ sứ cho Ngô Xương Văn, âm mưu kiếm cớ xâm nhập tiến tới chiếm đóng nước ta. Được tin ấy, Ngô Văn Xương cho ngay người đi sang chặn sứ Nam Hán lại trước khi tới biên giới, và dọa sứ Nam Hán rằng: giặc biển đương làm loạn, đường đi rất khó, đừng sang mà chết! (Đại việt sử ký toàn thư). Sứ Nam Hán hoảng sợ quay về. Mộng bành trướng của Nam Hán tới đây thật sự chấm dứt.

Ở ta, tình trạng sứ quân cát cứ kéo dài hơn 20 năm. Một trong thủ lĩnh 12 sứ quân là Đinh Bộ Lĩnh đánh tan các sứ quân khác, thống nhất được đất nước. Đinh Bộ Lĩnh là con của Đinh Công Trứ - một người bạn chiến đấu của Ngô Quyền, từ thời hai người còn là tướng thân cận của Dương Đình Nghệ.

Năm 968, nạn cát cứ đã chấm dứt, Đinh Bộ Lĩnh lên ngôi vua. Khác với Ngô Quyền, ông lập hẳn một triều đại, lên ngôi hoàng đế, xưng là Minh Hoàng đế , đặt mình ngang hàng với các hoàng đế Trung Quốc, sử sách gọi ông là Đinh Tiên Hoàng (tức Đinh Tiên Hoàng đế) là gọi theo niên hiệu Tiên Hoàng đế mà người ta đặt cho ông khi ông đã mất.

Về quan hệ ngoại giao với Trung Quốc thì từ thời Ngô đã không có. Khi Đinh Bộ Lĩnh lên ngôi vua, quan hệ ngoại giao với Trung Quốc cũng chưa đặt ra ngay, vì Trung Quốc chưa chấm dứt được nạn “Ngũ đại thập quốc". Ở ta, trong khi Đinh Bộ Lĩnh tiến hành thống nhất đất nước thì Triệu Khuông Dận ở Trung Quốc cũng nổi lên dẹp loạn "Ngũ đại thập quốc". Năm 960, Triệu Khuông Dận diệt được nhà Hậu Chu - một triều đại cuối cùng của "Ngũ đại", nhưng còn "thập quốc". Triệu Khuông Dận lập nên triều Tống và tiếp tục thanh toán "thập quốc”.

Đinh Tiên Hoàng lên ngôi vua được 2 năm thì năm 970 ở Trung Quốc, Tống Thái Tổ (tức Triệu Khuông Dận) tiến quân xuống phía nam đánh Nam Hán. Năm 971, Nam Hán bị diệt. Từ đấy biên giới Tống sát với nước ta. Tống đặt quan hệ giao hảo với ta, chưa có ý đồ gì khác, vì Trung Quốc chưa thống nhất, Tống còn phải lo đối phó với một số nước "thập quốc” ở phía bắc và phía đông. Cho nên quan hệ buổi đầu giữa hai nước là hòa bình hữu nghị. Có điều đặc biệt trong đường lối, phong cách ngoại giao của Đinh Tiên Hoàng là ông vẫn làm vua, vẫn cầm quyền trị nước, nhưng trong các văn bản quan hệ ngoại giao thì ông lại cho con trai là Đinh Liễn đứng tên, tức là ông cho con ông ra mặt giao thiệp với hoàng đế nhà Tống. Thái độ đó của Đinh Tiên Hoàng, có thể triều Tống không bằng lòng, nhưng nhà Tống chưa làm gì được.

Tới năm 979, nhà Tống diệt được nước cuối cùng trong “thập quốc" là nhà Bắc Hán ở phía bắc, thống nhất được Trung Quốc rộng lớn. Do đấy, nhà Tống lúc này quân đông thế mạnh. Trong khi đó ở ta, cũng năm 979 vua Đinh Tiên Hoàng và con lớn là Đinh Liễn đều bị cận thần sát hại. Con nhỏ là Đinh Toàn mới 5 tuổi lên nối ngôi, vua Tống tính ngay chuyện xâm lược nước ta. Thế là quan hệ ngoại giao giữa ta và Tống trở thành xấu.

Khoảng những tháng đầu năm 980, viên quan Tống coi Ung Châu (tức miền Quảng Tây bây giờ) báo cáo về triều đình Tống rằng:

"An Nam quận vương và con là Liễn đều bị giết, nước đã gần mất, có thể nhân lúc này đem quân địa phương đánh lấy được, nếu bỏ lúc này không mưu sự sợ mất cơ hội...” (Đại Việt sử ký toàn thư).

Tống triều vội nắm lấy cơ hội. Ngay tháng 7 năm 980, Tống triều quyết định "xuất kỳ bất ý đem quân đánh úp. . . như sét đánh không kịp bưng tai " (Đại Việt sử ký toàn thư). Nhà Tống bắt đầu họp quân, tuyển tướng.

Sang tháng 8, vua Tống hạ lệnh cho các tướng Hầu Nhân Bảo, Tôn Toàn Hưng, Khích Thủ Tuấn (có sách viết là Hác Thủ Tuấn.), Trần Khâm Tộ, Thôi Lượng, Lưu Trừng, Giả Thực, Vương Soạn... "họp quân bốn mặt, hẹn ngày cùng sang xâm lược" (Đại Việt sử ký toàn thư). Khí thế Tống rất mạnh.

Tháng 9, vua Tống cho đem thư sang hăm dọa ta, coi như một tối hậu thư. Đây là một văn kiện ngoại giao của kẻ xâm lược mà sử sách của ta lần đâu tiên ghi lại. Đó là một văn kiện khá dài, lời lẽ rất thô bạo, hống hách. Có những đoạn viết:

" … Nay thành triều ta, lòng nhân trùm muôn nước; cơ nghiệp thái bình kể cũng đã thịnh, điều lễ phân phong đã sắp sửa làm, muốn ngươi đến chầu cho ta được vui khỏe, mà ngươi khỏi cái tủi áp mặt vào góc nhà để làm rầy cho ta, khiến ta phải dùng đến kế chặt xác băm xương, làm cỏ nước người, lúc ấy hối sao kịp. . .

Người có theo về không? Chớ rước lấy tội lỗi. Ta đương chỉnh bị xe ngựa, quân lính, sắp sửu các thứ chiêng trống, nếu quy thuận thì ta tha cho, nếu trái lệnh thì ta quyết đánh. Theo hay không, lành hay dữ, tự người nghĩ lấy. . . " (Đại Việt sử ký toàn thư).

Đe dọa ngoại giao như thế này không phải là một việc làm ngẫu nhiên mà là quốc sách của kẻ bành trướng, một bước mở đầu của chiến tranh xâm lược. Binh thư tối cổ và tối ưu của đường lối chiến tranh xâm lược rất coi trọng biện pháp "phạt giao" (Binh pháp Tôn Tử. Thiên thứ ba: Mưu công). "Phạt giao” có nghĩa là đánh bằng ngoại giao, tức là dùng ngoại giao để đe dọa, nạt nộ, lừa gạt người để bắt người phải hàng phục, phải cống nạp, phải chịu sự thống trị của mình. "Phạt giao" thành công thì khỏi phải vũ trang xâm lược. “Phạt giao" dù không hoàn toàn được như ý muốn thì cũng làm cho kẻ bị đe dọa phải e sợ, giảm sút tinh thần chiến đấu, khiến kẻ xâm lược đánh cướp nước người được dễ dàng, nhanh chóng.

Nhưng nhà Tống đe dọa ta vô ích. Quân dân ta quyết không đầu hàng và sẵn sàng trả lời họ bằng vũ lực. Lúc này trong nước, vua Đinh tuy còn nhỏ, nhưng có Thập đạo tướng quân Lê Hoàn làm nhiếp chính, giữ chức Phó vương, trông nom mọi việc quân việc dân. Khi được tin nhà Tống chuẩn bị ra quân xâm lược nước ta, Thập đạo tướng quân Lê Hoàn cử tướng Phạm Cự Lạng (Có sách viết là Phạm Cự Lưỡng) làm Đại tướng quân để điều động quân sĩ và định kế hoạch ra quân đánh địch.

Trước khi lên đường dẹp giặc, Đại tướng quân Phạm Cự Lạng cùng các tướng lĩnh quyết định làm một cuộc đảo chính vì lợi ích của nhà nước. Trong một buổi triều đình đương họp, Phạm Cự Lạng cùng các tướng lĩnh nhung phục oai nghiêm, đem quân tiến thẳng vào triều. Tại giữa điện đình, Phạm Cự Lạng nói với mọi người:

"Nay chúa thượng trẻ thơ, chúng ta dù hết sức liều chết chống kẻ địch bên ngoài, mong lập được chút công thì ai biết cho. Chi bằng trước hãy tôn Thập đạo tướng quân làm Thiên tử, rồi sau sẽ đem quân đi đánh giặc thì hơn” (Đại Việt sử ký toàn thư)

Trăm quan tại triều và Dương Thái Hậu mẹ vua nhỏ Đinh Toàn đều “vui lòng quy phục" (Đại Việt sử ký toàn thư).

Tháng 4 năm 981, cuộc kháng chiến chống nhà Tống xâm lược bắt đầu. Quân Tống theo ba đường đánh sang ta. Một đường bộ vào Lạng Sơn (Có tài liệu viết đạo quân bộ vào theo cửa ải Thông Quốc ở Quảng Ninh ngày nay). Một đường thủy theo ven biển vào sông Bạch Đằng. Một đường thủy thứ hai vào Tây Kết. Nhưng trên cả ba đường hành quân, giặc đều bị quân ta đánh cho bại trận.

Đạo bộ binh tiên phong của giặc đi tới Chi Lăng thì bị quân ta tiêu diệt hoàn toàn. Chủ tướng quân tiên phong là Hầu Nhân Bảo bị quân ta bắt và giết chết. Đạo bộ binh đi sau khiếp sợ, quay đầu chạy về nước. Đạo thủy quân của giặc vào sông Bạch Đằng bị quân ta đánh bật ra, tan vỡ gần hết. Tướng thủy quân của giặc phải đem tàn quân chạy về Quảng Châu. Đạo thủy quân thứ hai của Tống bị quân ta đánh cho đại bại ở Tây Kết; quân sĩ “chết đến quá nửa, thây chất đầy đồng" (Đại Việt sử ký toàn thư). Hai tướng giặc là Quách Quân Biện và Triệu Phụng Huân bị quân ta bắt sống. Với trận Tây Kết, cuộc kháng chiến chống Tống lần thứ nhất kết thúc. Quân ta đại thắng. Các tướng Tống chạy về nước đều bị vua Tống hành tội và giết chết. Chỉ có một tướng thoát tội xử tử, nhưng bị giáng chức.

Cuộc chiến tranh xâm lược bị thất bại rất lớn là một đòn thấm thía cho nhà Tống, khiến gần 100 năm sau, nhà Tống nhiều lần muốn xâm lược nước ta mà không dám tính đến việc đem quân sang đánh. Không những thế, nhà Tống còn phải cố nén chịu đựng, nhượng bộ trước thái độ ngoại giao cứng rắn của Lê Hoàn và e dè cả trong quan hệ đối ngoại với con Lê Hoàn là Lê Long Đĩnh.

 


 
Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết

  Ý kiến bạn đọc

  Ẩn/Hiện ý kiến

Mã chống spam   

Những tin mới hơn

 

Những tin cũ hơn

Thời điểm thi THPT QG

Bạn muốn tổ chức thi thử vào THPT QG khi nào?

Top