NGOẠI GIAO THỜI LÊ SƠ

 - Người đăng bài viết: nguyễn thị linh  - Chuyên mục :  Đã xem: 25 

Dạy tốt giới thiệu tới bạn đọc bài viết NGOẠI GIAO THỜI LÊ SƠ.

 

 

Sau khi đánh thắng quân Minh xâm lược và thả hàng chục vạn tù hàng binh cho về Trung Quốc, tháng tư năm Mậu Thân (1428), Lê Lợi đưa quân đội và quần thần vào kinh thành Thăng Long.

Ngày 15 tháng tư năm Mậu Thân, tức 29 tháng 4 năm 1428, Lê Lợi lên ngôi vua, xưng hiệu Thuận Thiên hoàng đế, đặt tên nước là Đại Việt. Khi ông mất, triều thần đặt miếu hiệu là Lê Thái Tổ.

Triều Lê tồn tại hơn 300 năm. Thời kỳ thịnh trị là từ Lê Thái Tổ đến hết thế kỷ XV, tức hết thời vua Lê Thánh Tông. Trong thời kỳ thịnh trị, việc bang giao với các nước láng giềng, nhà Lê có nhiều thuận lợi .

I. NGOẠI GIAO VỚI TRUNG QUỐC

Sau chiến thắng quân Minh, Lê Lợi chủ động cho sứ sang Trung Quốc, tiến hành ngoại giao bình thường với triều đình nhà Minh và trao trả tù binh cho nhà Minh. Nhà Minh cũng trao cho ta một số người của ta bị họ bắt giữ trong chiến tranh.

Hai nước giao hảo từ đấy. Ta là nước nhỏ nên Lê Lợi, theo như các triều đại trước, chấp nhận để vua Minh phong vương. Sau chiến tranh, nhà Minh là kẻ chiến bại, nên đối với triều Lê, cũng e nể nhiều. Năm 1437, nhà Minh phong vương và tặng một quả ấn bằng vàng nặng một trăm lạng cho vua Lê Thái Tông.

Hai nước cũng thường thăm hỏi, quà cáp cho nhau luôn. Tuy giao hảo, nhưng từ cuối thế kỷ XV trở đi, triều đình nhà Minh cũng đôi khi hạch sách, đe dọa. Mỗi khi sứ ta sang, vua quan nhà Minh thường nói bóng gió về sức mạnh nước lớn của chúng, tỏ ý coi thường ta. Cho nên, sứ của ta đi Trung Quốc thường phải chọn người có kiến thức, có tài năng đối đáp đấu trí với chúng, giữ vững quốc thể Đại Việt.

Khoảng năm 1495 - 1496, một sứ thần của ta là hoàng giáp Ngô Kính Thần sang Trung Quốc. Một lần ông vua quan nhà Minh ra cho ông một vế câu đối tỏ cái thế mạnh của chúng:

Nhật hỏa, vân yên, bạch đán thiên tân ngọc thỏ.

(Mặt trời là lửa, mây là khói, ban ngày đốt cháy vầng trăng) .

Ngô Kính Thần đối lại:

Nguyệt cung, tinh đạn, hoàng hôn xạ lạc kim ô.

(Mặt trăng là cung, sao là đạn, chiều tối bắn rơi mặt trời).

Vua quan nhà Minh bực tức, giam giữ ông một thời gian.

Trong thời thịnh trị của nhà Lê, tham vọng bá quyền nước lớn của nhà Minh chỉ hạn chế trong những hành động như vậy.


II. QUAN HỆ VỚI AI LAO

Quan hệ giữa Đại Việt với Ai Lao trong suốt thời Lê, nói chung là tốt. Hai nước thường cho sứ qua lại giao hảo.

Đầu năm 1432, có nghịch thần là Kha Lại nổi loạn, vua Ai Lao cho sứ sang ta cầu cứu. Lê Thái Tổ cho quân sang giúp đánh tan quân phiến loạn và giết Kha Lại.

Nhưng năm 1479, nghe theo lời xúi giục của một vài kẻ phản loạn, vua Ai Lao cho quân xâm phạm biên giới Tây Bắc nước ta. Vua Lê Thánh Tông cho các tướng Lê Thọ Vực, Trịnh Công Lộ, Lê Đình Ngạn, Lê Lộng, Lê Nhân Hiếu cầm đầu năm đạo quân đi theo các đường Nghệ An, Thanh Hóa, Hưng Hóa tiến sang Luông Pha Băng, truy kích quân Ai Lao tới biên giới Miến Điện. Sau chiến thắng, quân ta rút về.

Từ đấy, quan hệ giữa hai nước trở lại bình thường.


III. QUAN HỆ VỚI CHIÊM THÀNH

Quan hệ Đại Việt - Chiêm Thành phức tạp hơn quan hệ Việt - Lào. Đại Việt và Chiêm Thành là hai vương quốc trên cùng một lãnh thổ quốc gia, cùng ở miền đồng bằng ven biển, cùng muốn thống nhất lãnh thổ quốc gia, nên quan hệ giữa hai nước luôn luôn thay đổi, khi thì giao hảo, khi lại xung đột vũ trang.

Trong thế kỷ XV, thời Lê thịnh trị, có hai lần xung đột vũ trang với Chiêm Thành.

Liền hai mùa hè 1444 và 1445, vua Chiêm là Bí Cai cho quân đánh ra Hóa Châu, tức vùng Huế bây giờ, nhưng đều đại bại. Để chấm dứt hành động phá rối của vua Chiêm, đầu năm 1446 nhà Lê cho quân đánh thẳng vào kinh đô Chà Bàn bắt sống vua Chiêm - Bí Cai đưa về Thăng Long. Nhà Lê không cho quan quân chiếm đóng Chiêm Thành mà lập người trong hoàng tộc Chiêm là Ma Ha Quý Lai lên làm vua, rồi rút về nước.

Hai mươi lăm năm sau, tức mùa thu năm 1470, vua Chiêm là Trà Toàn lại đưa quân ra đánh Hóa Châu; tướng nhà Lê ở đây không chống cự nổi, vào thành cố thủ. Đầu năm 1471, triều đình Thăng Long cho quân vào cứu Hóa Châu. Tháng 3 năm 1411, quân nhà Lê đánh tới thành Chà Bàn, bắt sống vua Chiêm - Trà Toàn. Một tướng Chiêm là Bồ Trí lui quân xuống giữ Phan Lung, tức Phan Rang bây giờ. Quân nhà Lê không truy kích, đem Trà Toàn trở về Thăng Long. Tướng Chiêm - Bồ Trí lên ngôi vua, cho người ra Thăng Long cầu hòa và cầu phong. Triều đình Thăng Long phong Bồ Trí làm Chiêm Thành vương.

Thế nước của Chiêm Thành từ đây trở đi ngày càng suy yếu, đất đai ngày càng thu hẹp, chẳng còn là bao.

IV. QUAN HỆ VỚI CÁC NƯỚC KHÁC

Quan hệ ngoại giao của nhà nước Đại Việt cho tới hết thế kỷ XV vẫn bó hẹp trong phạm vi tiếp xúc với mấy nước láng giềng sát cạnh mình là Trung Quốc, Ai Lao, Chiêm Thành. Đối với những nước khác ở Đông Dương như Chân Lạp, Xiêm La và các nước ở xa hơn nữa, đêu chưa có quan hệ cấp nhà nước. Mặc dầu vậy, triều đình nhà Lê vẫn cho phép người ngoại quốc tới Việt Nam buôn bán, giảng đạo. Thường vẫn có người ở các nước, nay là In-đô-nê-xi-a và Ma-lai-xi-a tới buôn bán.

Sang đâu thế kỷ thứ XVI, người phương Tây bắt đầu vào nước ta. Năm 1523, vua Bồ Đào Nha cho sứ sang triều đình Đại Việt thượng nghị về việc buôn bán giữa hai nước.

Năm 1525, có 21 giáo sĩ Dòng tên được phép vào Đại Việt giảng đạo Gia Tô (thờ Chúa Giê su). Như vậy là sau khi đánh thắng quân Minh xâm lược, nước Đại Việt gắng sức xây dựng thành một nước mạnh ở Đông Nam châu Á. Ngoại giao thời Lê là ngoại giao của một nhà nước cường thịnh, nên giữ được quan hệ hòa dịu với nước lớn Trung Quốc và giao hảo với các nước láng giềng khác. Đôi khi cũng có xung đột với hai nước Ai Lao và Chiêm Thành, nhưng triều đình nhà Lê dùng sức mạnh vũ trang dập tắt xung đột, gây lại hòa hảo như trước.


 
Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết

  Ý kiến bạn đọc

  Ẩn/Hiện ý kiến

Mã chống spam   

Những tin mới hơn

 

Những tin cũ hơn

Thời điểm thi THPT QG

Bạn muốn tổ chức thi thử vào THPT QG khi nào?

Top