NGOẠI GIAO THỜI LÊ LỢI

 - Người đăng bài viết: nguyễn thị linh  - Chuyên mục :  Đã xem: 17 

Trung tâm Dạy tốt giới thiệu tới bạn đọc bài viết NGOẠI GIAO THỜI LÊ LỢI.

 

 

Trong quá trình giữ nước của dân tộc, Tổ tiên ta ở các thời đều kết hợp đấu tranh quân sự với đấu tranh ngoại giao để đánh thắng giặc. Chiến tranh giải phóng hay chiến tranh bảo vệ Tổ quốc, Tổ tiên ta đều làm như thế. Thời kỳ chiến tranh đánh đuổi quân Minh đô hộ, Lê Lợi và Nguyễn Trãi đã kiên trì đấu tranh ngoại giao kết hợp đấu tranh quân sự để đánh thắng giặc. Lê Lợi và Nguyễn Trãi chủ trương “Ta mưu dẹp bằng đánh vào lòng, không chiến trận mà địch phải khuất" (Ngã mưu phạt như tâm công, bất chiến tự khuất - Bình Ngô đại cáo).

Đánh vào lòng địch là một bộ phận của đấu tranh ngoại giao mà Nguyễn Trãi đã dùng với hai hình thức:

1. Dụ hàng các tướng lĩnh, binh sĩ địch và ngụy quân ở các thành.

2. Đấu tranh hòa đàm, khi thì để hòa hoãn tạm thời với địch, khi thì buộc địch phải chấm dứt chiến tranh, rút quân về nước.

Trong quá trình đánh địch, Nguyễn Trãi đảm nhiệm gần như toàn bộ công việc “đánh vào lòng địch". Ông viết gửi cho địch, ngụy hàng trăm bức thư để dụ hàng, để hòa đàm. Ông trực tiếp tới một số thành để khuyên địch ra hàng. Ông năm lần thân vào thành Đông Quan đàm phán với chủ tướng địch.

Khi có tướng địch đem quân ra hàng, Nguyễn Trãi và các lãnh tụ nghĩa quân tiếp đón, đối xử rất niềm nở, ân cần. Với thái độ, chính sách và tích cực làm công tác binh vận, Nguyễn Trãi và nghĩa quân Lam Sơn đã thu được nhiều kết quả tốt đẹp. Trong quá trình chiến đấu, đã có hàng vạn tướng sĩ, binh lính địch ra hàng; hàng vạn tướng sĩ, binh lính, quan lại ngụy trở về với dân tộc.

Cùng với chủ trương dụ hàng, vận động quân địch phản chiến, Nguyễn Trãi kiên trì đấu tranh hòa đàm với địch. Đấu tranh hòa đàm của ông là một hình thức đấu tranh ngoại giao đi liền với đấu tranh quân sự, nhằm chấm dứt chiến tranh, đem lại hòa bình, gây lại giao hảo giữa ta và địch. Nguyễn Trãi và nghĩa quân Lam Sơn đã vận dụng rất linh hoạt, tài giỏi đấu tranh quân sự với đấu tranh hòa đàm. Đàm mà vẫn đánh, đánh mà vẫn đàm. Vừa đánh vừa đàm cho tới khi chiến tranh kết thúc. Đàm tới khi địch không thể đánh được nữa và đánh tới khi địch phải đàm phán, chấp nhận đầu hàng mới thôi.

Từ năm 1418, nghĩa quân Lam Sơn phất cờ khởi nghĩa, chiến đấu kiên cường, càng đánh càng mạnh, nhưng vẫn khi được, khi thua, chưa giành được những chiến thắng lớn và những thắng lợi quyết định. Năm 1423, Nguyễn Trãi tới Lam Sơn, bắt đầu vận dụng kế sách đấu tranh - hòa đàm để mở đầu một giai đoạn chiến tranh mới, giai đoạn đánh mạnh vào lòng địch, kết hợp đánh mạnh bằng quân sự và bằng sức mạnh của quần chúng nổi dậy để đánh bại hẳn quân địch.

Muốn thực hiện kế sách đó, công việc trước tiên là phải đàm phán thương lượng với địch để có một thời gian hòa hoãn, ngừng chiến với địch, tăng cường sức mạnh của mình. Nguyễn Trãi được trao trách nhiệm trực tiếp nghiên cứu, trù liệu việc đàm phán và đàm phán thành công. Ta và địch có một thời gian hòa hoãn, ngừng chiến từ đầu năm 1423 tới mùa xuân năm 1424. Nghĩa quân Lam Sơn có thời gian chuẩn bị điều kiện đánh lâu dài với địch, đi đến càng đánh càng thắng.

Nhưng việc hòa hoãn không thể kéo dài. Những hoạt động quyên tiền, mộ lính, những cảnh tượng nông dân và những người yêu nước bốn phương tấp nập kéo tới quân doanh Lam Sơn và không khí sôi nổi luyện tập quân sĩ, chuẩn bị lương thực, chế tạo vũ khí, không thể không tới tai mắt quân địch.

Vốn từ sau khi nghị hòa, các tướng lĩnh hai bên, ta và địch, vẫn thường đi lại, quà cáp cho nhau. Nhưng dần dần, địch thấy rõ nghĩa quân Lam Sơn đương tăng cường lực lượng, nên hòa hoãn được hơn một năm, địch cắt ngoại giao, bắt giam sứ của nghĩa quân, không cho trở về.

Chiến tranh lại tiếp tục.


I. ĐÁNH VÀ ĐÀM, HẠ THÀNH TRÀ LONG

Xuất phát từ căn cứ địa Chí Linh - Lam Sơn, nghĩa quân quyết định đánh vào phía nam, tức Diễn Châu, Nghệ An, Tân Bình, Thuận Hóa là những nơi địch có nhiều sơ hở, vì càng xa căn cứ chính của địch ở Đông Quan, Tây Đô, lực lượng địch càng mỏng càng yếu.

Được tin nghĩa quân đang theo đường núi tiến vào Nghệ An, các tướng giặc cao cấp ở Đông Quan là Trần Trí, Phương Chính... vội đem quân tiến vào theo đường hành quân của nghĩa quân. Tướng giặc ở Nghệ An là Sư Hựu và các tướng ngụy là tri phủ Cầm Bành ở Trà Long, tri phủ Cầm Lạn ở Quỳ Châu được lệnh đem quân phối hợp, đón đánh nghĩa quân.

Khoảng tháng 12 năm 1424, nghĩa quân Lam Sơn tới trước thành Trà Long, cho người dụ hàng Cầm Bành. Viên ngụy quan này cố thủ trong thành, cho người đi Nghệ An cầu cứu viện binh. Thấy Cầm Bành cố thủ không hàng, nghĩa quân Lam Sơn một mặt vây thành, một mặt giải phóng vùng đất đai châu Trà Long và chuẩn bị đối phó với viện binh giặc.

Bấy giờ là đầu năm 1425, Cầm Bành bị vây khốn đã hơn một tháng. Để nhanh chóng cứu nguy cho Cầm Bành, chủ tướng giặc Trần Trí quyết định trả những sứ giả của nghĩa quân mà chúng đã giam giữ từ giữa năm 1424 và cho người của chúng mang thư cầu hòa tới đại bản doanh nghĩa quân Lam Sơn. Các lãnh tụ Lam Sơn chấp nhận nghị hòa của chủ tướng giặc, nhưng buộc chúng phải hạ lệnh cho Cầm Bành ngừng chiến, giao hảo với nghĩa quân thì việc hòa giải mới thành. Các tướng giặc ở Nghệ An vội cho người tới Trà Long hạ lệnh cho Cầm Bành ngừng chiến, không được cố thủ trong thành, phải cùng nghĩa quân hòa giải. Thấy không có viện binh, lại được lệnh ngừng chiến, Cầm Bành tuyệt vọng, mở cửa thành ra hàng.

Nghĩa quân vào thành, tha tội cho Cầm Bành và mọi người trong thành. Với chiến thắng này, thanh thế nghĩa quân càng lớn mạnh, vang dội khắp miền Nghệ An, Diễn Châu và vùng biên giới giáp Ai Lao. Nhiều hào kiệt trong vùng tới Trà Long xin theo nghĩa quân. Nhân dân và các tù trưởng thiểu số những vùng gần Trà Long đều hoan nghênh, ủng hộ nghĩa quân. Hơn 5.000 trai tráng tình nguyện gia nhập lực lượng vũ trang. Sức mạnh của nghĩa quân Lam Sơn được nâng cao.

Việc hạ thành Trà Long là một bằng chứng xác nhận sự kết hợp tiến công quân sự với tiến công ngoại giao và địch vận của nghĩa quân là đúng đắn. Việc hạ thành Trà Long còn đem lại cho nghĩa quân Lam Sơn một kinh nghiệm chiến đấu mới: muốn đánh lấy thành địch, không nhất thiết phải tiến công quân sự, phá thành diệt địch, mà có thể vây hãm thành kết hợp với địch vận gọi hàng, hoặc vây hãm thành kết hợp với đấu tranh ngoại giao khiến chỉ huy của địch ở cấp trên phải hạ lệnh cho tướng giữ thành bỏ vũ khí không được chiến đấu, như trường hợp hạ thành Trà Long. Đây là một kinh nghiệm quý có giá trị lớn về chiến lược, nghĩa quân Lam Sơn tiếp tục vận dụng trong nhiều trường hợp đánh thành sau này.

Sau khi đánh thành Trà Long, nghĩa quân Lam Sơn tiến đánh Nghệ An, và trong vòng 10 tháng giải phóng một nửa nước về phía nam, dồn địch vào các thành Nghệ An, Diễn Châu, Thanh Hóa, Tân Bình, Thuận Hóa để vây hãm chúng, tạo điều kiện và thời cơ tiến ra giải phóng miền Bắc.

Tình hình miền Bắc lúc ấy rất thuận lợi cho những cuộc tiến công của nghĩa quân Lam Sơn. Giặc ở Đông Đô đang lúng túng vì quân số giảm nghiêm trọng. Giữa năm 1426, bọn tướng giặc Trần Trí khẩn cấp kêu xin viện binh bên nước chúng.

Triều đình nhà Minh cho hai đạo viện binh sang cứu nguy cho quân tướng của chúng đang bị khốn ở Đại Việt; một đạo do Vương An Lão chỉ huy tiến sang theo đường Vân Nam, một đạo do Vương Thông chỉ huy tiến sang theo đường Quảng Tây.

Được tin viện binh giặc sắp sang, các lãnh tụ nghĩa quân quyết định cho quân tiến ngay ra Bắc. Bấy giờ là mùa thu năm 1426. Đại bộ phận lực lượng giặc ở nước ta vẫn còn trong thành Nghệ An. Các lãnh tụ nghĩa quân chủ trương phần lớn nghĩa quân vẫn làm nhiệm vụ khống chế giặc trong thành Nghệ An, bước đầu chỉ cho hơn một vạn quân ra Bắc làm một số nhiệm vụ cần thiết.

Lần đầu tiên ra Bắc, lực lượng nghĩa quân không nhiều, nhưng tinh nhuệ, chia làm ba cánh quân tiến theo ba hướng.

Khoảng cuối tháng 8 đầu tháng 9 năm 1426, cả ba cánh quân lần lượt xuất phát.

Ra Bắc, ba cánh quân Lam Sơn đi tới đâu cũng được nhân dân nhiệt liệt hoan nghênh, sôi nổi hưởng ứng. Khí thế tiến công của nghĩa quân rất mạnh, chính quyền giặc ở các phủ, huyện, châu không đánh mà tan. Quân giặc đóng trong các thành đều bị cô lập. Nhân dân nhiều địa phương tổ chức dân binh để hợp lực với nghĩa quân vây bức các thành giặc.

Nghĩa quân Lam Sơn cùng nhân dân miền Bắc liên tiếp đánh thắng giặc tại các trận Cần Ninh, Cần Trạm, đánh tan viện binh Vương An Lão tại trận Cần Đồng Dọc, phá vỡ cuộc phản công của Vương Thông - chủ tướng mới của giặc, tiếp đó đánh tan đại quân Vương Thông tại trận Tốt Động - Chúc Động (Hà Tây), buộc chủ tướng giặc Vương Thông phải chạy vào thành Đông Quan cố thủ.

Trận Tốt Động - Chúc Động vừa kết thúc thì ngày 10 tháng 11 năm 1426 đại quân Lam Sơn từ Nghệ An ra tới Đông Quan. Ngày 22 tháng 11, đại quân Lam Sơn mở cuộc tiến công lớn, quét sạch những căn cứ của giặc ở bên ngoài thành Đông Quan. Giặc trong thành Đông Quan vô cùng bối rối: không liên hệ được với quân của chúng ở các thành khác, không điều động được quân ở các thành về cứu nguy cho chúng, cũng không liên hệ, cầu viện được với bên nước chúng, bản thân chúng thì bị vây hãm ngày càng khốn quẫn. Thế của giặc lúc này là cái thế: đánh cũng chết, không đánh ngồi chờ viện binh cũng chết. Để thoát chết, chỉ còn một con đường duy nhất là đầu hàng. Do đó, tổng binh giặc Vương Thông phải chủ động thương lượng cầu hòa với nghĩa quân.

Các lãnh tụ Lam Sơn không ngạc nhiên trước việc nghị hòa của giặc, nhưng đặt điều kiện cho giặc trước khi nghị hòa. Thay mặt các lãnh tụ Lam Sơn, Nguyễn Trãi viết thư trả lời Vương Thông, chỉ nhận nghị hòa với điều kiện Vương Thông hạ lệnh cho quân giặc ở các nơi phải trao lại thành cho nghĩa quân, rút về Đông Quan chờ ngày về nước và Vương Thông phải cho người cùng sứ của ta sang triều đình Minh giao hảo. Có như thế, nghĩa quân Lam Sơn mới nới vòng vây để cho quân Minh ở Đông Quan có thể đi lại ra khỏi thành và mới chấp nhận việc thương lượng hòa hảo, trao trả tù, hàng binh, ấn định ngày cho chúng về nước.

Không thể không chấp nhận những điều kiện của nghĩa quân đưa ra, Vương Thông bắt buộc phải cho người đưa giấy đi các thành Thanh Hóa, Nghệ An, Diễn Châu, Tân Bình, Thuận Hóa, hạ lệnh đình chiến và rút quân về Đông Đô. Về phía ta, Nguyễn Trãi cũng nhân việc Vương Thông nghị hòa, gửi thư đi dụ hàng các thành khác của giặc.

Vốn đã mất tinh thần chiến đấu, lại thấy cái thế không thể cầm cự được nữa, nên khi nhận được lệnh của Vương Thông và thư dụ hàng của Nguyễn Trãi là quân giặc ở các thành Nghệ An, Diễn Châu, Tân Bình, Thuận Hóa vội mở cửa ra hàng, trao lại thành trì cho nghĩa quân và chuẩn bị lên đường ra Đông Quan theo sự hướng dẫn của nghĩa quân.

Với tinh thần cảnh giác, nghĩa quân Lam Sơn không cho hàng binh ở các thành và tù binh bắt được từ trước về ngay thành Đông Quan để tránh tập trung một lực lượng lớn quân giặc ở nơi trọng yếu này, khiến chúng không thể có mưu đồ phản trắc. Nghĩa quân giữ và kiểm soát chặt chẽ các tù hàng binh ở lại tại chỗ. Các lãnh tụ nghĩa quân có tinh thần cảnh giác cao và lường trước những sự tráo trở của đối phương có thể xảy ra; bởi lẽ họ biết rằng việc thương lượng hòa bình với bọn cướp nước để kết thúc chiến tranh không thể với mấy lời hứa hẹn đầu lưỡi của chúng mà thành, dù là vấn đề tự chúng đưa ra, tự chúng yêu cầu được thương lượng. Chỉ khi nào ý chí xâm lược và mơ tưởng chiến thắng cuối cùng của chúng hoàn toàn tiêu tan thì hòa bình mới có thể có được, và khi ấy việc thương lượng mới có thể tiến hành có kết quả.

Như các lãnh tụ nghĩa quân đã lường trước, bọn Vương Thông quả thật có ý muốn bội phản những lời ước hẹn khi cầu hòa. Chúng muốn nhân việc đưa sứ giả của nghĩa quân sang nhà Minh để cho người về nước xin viện binh nhanh chóng sang cứu và tăng cường lực lượng cho chúng tiếp tục chiến tranh xâm lược Đại Việt.

Đầu năm 1427, vua Minh quyết định cử một đạo viện binh lớn sang Việt Nam do Liễu Thăng chỉ huy. Tin đó làm bừng lên trong đầu Vương Thông một tia hy vọng được cứu sống, có thể tiếp tục chiến tranh và chiến thắng trên chiến trường Việt Nam. Do đó Vương Thông bội phản nghị hòa, cho quân phá chuông Qui Điền và vạc Phổ Minh là hai công trình nghệ thuật của dân tộc ta thời xưa, để lấy đồng làm súng đạn. Giặc đắp cao thành Đông Quan, đào hào sâu, thả chông, dựng thêm hai lần lũy. Lời nghị hòa của giặc tới đây coi như xóa bỏ.

Để cho giặc thấy rõ quyết tâm tiêu diệt viện binh - niềm hy vọng cuối cùng của giặc, các lãnh tụ Lam Sơn phái thêm quân vây đánh tất cả các thành mà quân Minh chốt giữ trên con đường từ Đông Quan lên biên giới Quảng Tây và từ Đông Quan lên biên giới Vân Nam.

Để tăng cường uy hiếp giặc ở Đông Quan, các lãnh tụ Lam Sơn cho quân vây chặt bốn cửa thành. Người ngựa của giặc lảng vảng ra ngoài thành đều bị nghĩa quân bắt giữ, tất cả tới trên 3.000 quân và 500 ngựa bị bắt.

Đầu tháng 2 năm 1427, các tướng Trần Lựu, Lê Bôi mở trận tiến công thật mạnh vào thành Khâu Ôn. Tướng giặc giữ thành Khâu Ôn là Tôn Tụ ngay đêm hôm ấy bỏ thành chạy trốn về Quảng Tây. Quân ta lấy lại thành Khâu Ôn.

Tin thành Khâu Ôn thất thủ truyền đi làm cho quân Minh ở các thành khác trên con đường Đông Quan - Quảng Tây hoang mang lo sợ.

Nhân cơ hội này, Nguyễn Trãi viết thư dụ hàng các thành, trước hết là thành Điêu Diêu ở gần Đông Quan, do tướng giặc Trương Lân và tướng ngụy Trần Vân chỉ huy. Thành này đang bị tướng Bùi Quốc Hưng và nghĩa quân vây đánh. Trong thư gửi cho tướng giặc Trương Lân, có đoạn Nguyễn Trãi viết:

“Hiện nay vệ quân các xứ Thanh Hóa, Diễn Châu đều đã nhất tề đền đây rồi, phàm vợ con tài sản của quân nhân, mảy may không bị xâm phạm. Nay cái kế tốt cho các người không gì bằng ra ở ngoài thành, cùng Thái đốc quân (Thái đốc quân hay Thái đô đốc là chỉ Thái Phúc tướng giặc chỉ huy thành Nghệ An, đã ra hàng nghĩa quân Lam Sơn) quyết định việc về để cứu vớt mấy nghìn tính mệnh ở trong thành. Chúng ta đã xét những việc đắc thất của cổ nhân như Bạch Khởi (Bạch Khởi là tướng nước Tần thời Chiến quốc, cầm quân đánh nước Triệu, 40 vạn quân Triệu ra hàng đều bị Bạch Khởi giết chết) nước Tần, Hạng Vũ (Hạng Vũ nước Sở đem quân đánh nước Tần; Tần Vương là Tử Anh ra hàng, Hạng Vũ giết chết) nước Sở, giết kẻ đầu hàng, trái lời đã ước, chúng ta quyết không làm như thế đâu. Các người hãy cứ thư lòng, đừng nên ngờ vực mà thành hỏng việc. Các người nếu cho là thành cao hào sâu, lương thực lại nhiều, thì thử xem như ở các xứ Thanh Hóa, Nghệ, Diễn, thành không phải là không cao, hào không phải là không sâu, lương thực không phải là không nhiều, quân không phải là không mạnh, lại Thái đô đốc thì chức cũng to, binh cũng giỏi, trí cũng sáng, mà còn theo thời thông biến để bảo toàn tính mệnh cho mấy vạn con người, thế mà các người lại còn muốn cố chấp những lời bàn suông để mang tai vạ thật, há chẳng lầm lắm ư? Vả lại ta xem ở nước các người, hiện nay bên trong có họa tiên tường (Tiên tường là bức bình phong trong nhà quý tộc. Ở đây, ý nói trong nhà, trong nội bộ.), bên ngoài có giặc bắc biên (Bắc biên là biên giới phía bắc. Ở đây chỉ người Mông Cổ đánh phá ở miền bắc Trung Quốc.), mà đại thần lấn vị, người dưới chuyên quyền; hạn hán hoàng trùng, luôn năm tai họa, bốn phương đạo tặc nổi dậy như cái cơ táng loạn, há không biết trước rồi sao? Người trí giả thấy việc từ lúc việc chưa phát, sao các ngươi lại thấy sự cơ muộn thế, mà muốn tự khổ như thế? Các người nếu biết kéo quân ra thành, cùng ta hòa hảo thân tình, tình ta coi các người nghĩa như anh em ruột thịt, nào chỉ những bảo toàn tính mệnh vợ con mà thôi đâu? Nếu không thế, tùy ý các người. Trong khoảng sớm tối, sẽ khắc thấy nhau. Đến lúc bấy giờ hối cũng không kịp. Các người hãy nên nghĩ đi".

Bức thư dụ hàng tướng ngụy thành này, lời lẽ không giống như viết cho tướng Minh. ông viết:

"Người xưa có nói: "Quạ đi lại về quê cũ, cáo chết quay đầu về núi”. Cầm thú còn thế, huống nữa là người. Các người vốn là người dân Tây Việt (Tây Việt là tên nhóm người Bách Việt ở phía nam Quảng Tây thời cổ. Ở đây, Tây Việt chỉ nước ta), dòng dõi nhà quan. Trước nhân họ Hồ thất đức, giặc Ngô lăng loàn, các người có người thì thân bị hãm ở tặc đình (Tặc đình là triều đình giặc, tức triều đình nhà Minh), có người thì danh bị buộc ở ngụy chức, đó là thế không đứng được, nào phải do ở bản tâm đâu. Đấng Thượng đế nghĩ thương dân ta, đã mượn tay ta, Đại Thiên hành hóa, Thái sư Vệ Quốc Công (Chỉ Lê Lợi - thư viết nhân danh Lê Lợi), cứu dân đáng kể có tội để khôi phục cơ đồ. Quân đi đến đâu, nghĩa thanh vang dậy, dân chúng bốn phương, dắt díu nhau mà kéo đến theo ta. Bọn các người nếu biết rửa lòng đổi dạ, bỏ nghịch theo thuận, hoặc ở làm nội ứng, hoặc ra để đầu hàng, thì không những rửu mối hổ thẹn ngày trước, mà cũng được phần soi xét về sau. Ta không nói lời rồi lại ăn lời. Nếu các người lại còn tiếc tham ngụy chức, chống cự Vương sư, thì khi hãm thành, tội ác các người tất nặng hơn giặc Ngô đấy".


Những thư trên đều cùng mục đích dụ hàng. Nhưng viết cho tướng Minh ông viết khác, viết cho tướng ngụy ông viết khác. Khác về cách viết, khác về lời văn, khác về cách phân tích các lẽ phải trái, được thua. Với tướng Minh, ông cho chúng thấy cái mạnh, cái sức sống trường tồn và cái lẽ tất thắng của dân tộc ta; đồng thời ông vạch rõ cái thế yếu, thế thua của giặc và cái thế không thể đương nổi của chính bản thân kẻ nhận thư đó. Với tướng ngụy, ông viết khác. ông nhấn mạnh vào tình quê hương Tổ quốc, vào cái thế không thể xa lìa được quê cha đất tổ: "Cáo chết còn quay đầu về núi” huống nữa con người. Ông tỏ niềm thông cảm với bọn ngụy quân, ngụy quyền, phải làm tay sai cho giặc là vì bất đắc dĩ, thế không thể đừng, chứ không phải do bản tâm muốn thế. ông cũng nêu rõ cái sức mạnh như vũ bão của nhân dân cả nước đang vùng lên để cứu nước cứu nhà; chúng cũng là dân một nước, không thể ôm mãi cái ngụy chức của giặc, chống lại chính nghĩa, đi ngược lại nguyện vọng của nhân dân cả nước. Những bức thư ấy, cách viết khác nhau mà những điều cơ bản lại rất giống nhau. Giống nhau ở chỗ thư nào cũng sáng ngời chính nghĩa của dân tộc và tràn đầy tình yêu nước nồng nàn của người viết. Từ trong thư toát lên một tinh thần tự hào dân tộc rất cao đẹp, một khí thế chiến đấu kiên cường để bảo vệ nền độc lập tự do của Tổ quốc, một sức mạnh hùng biện áp đảo địch, một tấm lòng nhân ái tuyệt vời, thu phục lòng người, lôi cuốn người đi theo lẽ phải, theo chính nghĩa. Thư nào ông cũng mở ra những lối thoát cho địch: ông nêu rõ chính sách khoan hồng, không giết kẻ đầu hàng và thái độ đối xử tử tế, ân cần của quân dân ta đối với tù hàng binh, kể cả địch lẫn ngụy. Thư của Nguyễn Trãi viết có sức mạnh đánh vào lòng người chính là ở những điểm cơ bản đó.

Trước những bức thư dụ hàng, chính nghĩa sáng ngời, tình lý rạch ròi, ân uy đầy đủ như vậy, tướng nhà Minh là Trương Lân và tướng ngụy là Trần Vân, chỉ huy thành Điêu Diêu đem quân ra hàng, dâng thành cho ta.

Đầu tháng 3 năm 1427, tướng giặc Đường Bảo Trinh ở Thị Cầu cũng mở cửa thành, đem quân ra hàng.

Sau khi hạ ba thành trên đường lên Quảng Tây, cuối tháng 3 năm 1427, Nguyễn Trãi thân lên dụ hàng thành Tam Giang trên đường lên Vân Nam. Thành này do tướng Trịnh Khả vây hãm. Nguyễn Trãi đưa thư cho Lưu Thanh, tướng địch chỉ huy thành Tam Giang. Bức thư không viết với lời lẽ mềm mỏng, ngọt ngào, mà là một bức tối hậu thư gửi cho địch, lời lẽ rất quyết liệt:

"Thư bảo cho tướng hiệu quan viên cùng quân nhân trong thành Tam Giang biết.

Cái điều đáng quý ở người quân tử là biết thời thông biến, lượng sức xử mình. Bây giờ giá có người đem quả trúng chim chống đỡ núi Thái Sơn, lấy càng bọ ngựa ngăn cản bánh xe, mà lại tự cho là sức có thừa, thì thật là ngu quá vậy! Lũ ngươi có vài trăm quân, giữ thành trơ trọi mà lại muốn kháng cự với ta, thì có khác gì thế không? Thành trì của các người không cao sâu bằng ở Nghệ An, lương thực của các ngươi không súc tích bằng ở Diễn, An; mà quân vũ dũng cảm tử của các ngươi lại không đông bằng quân nhân ở Diễn, Nghệ, quan tước của các ngươi lại không to bằng Thái đô đốc. Thêm mà vệ quân ở các xứ Diễn, Nghệ, Thuận Hóa, Tân Bình, Thanh Hóa, Tiền Vệ (Tiền Vệ tức thành Điêu Diêu), Thị Cầu, Xương Giang, Trấn Giang (Trấn Giang tức ải Chi Lăng), đều đã mở thành ra hàng. Nay thấy dưới cây bồ đề (Cây bồ đề ở đây chi đại bản doanh Bồ Đề của nghĩa quân.), Thái đô đốc đã đinh nhật kỳ kéo quân về Kinh (Tức Kinh đô nhà Minh). Phàm quan quân cùng vợ con, tài sản không bị xâm phạm mảy may. Thế mà các người chỉ cứ theo sự giữ lầm, không biết lo xa, sao mà thấy biết sự cơ muộn thế! Tất cả những tướng sĩ của ta, không ai là không hăm hở muốn vác khí giới lên phá thành ngay. Nhưng ta còn nghĩ thương những kẻ vô tội ở trong thành đã bị các người lừa dối, một khi tiếng trống nổi lên, thì ngọc đá chẳng phân biệt gì, đều tan nát cả. Vậy viết mấy chữ gửi các ngươi hay”.

Nhận được thư dụ hàng của Nguyễn Trãi, tướng giặc Lưu Thành lập tức mở cửa thành Tam Giang (Tam Giang là miền Việt Trì ngày nay) đem quân ra hàng.

Đối với thành Đông Quan là nơi bọn chủ tướng giặc Vương Thông và đại bộ phận quân giặc đồn trú, các lãnh tụ nghĩa quân Lam Sơn chủ trương vây hãm và dụ hàng là chính. Các lãnh tụ nghĩa quân tin tưởng rằng chủ trương vây hãm và dụ hàng giặc ở thành Đông Quan nhất định sẽ thành công. Sự thành công ấy vừa không làm tổn hại nhiều xương máu quân sĩ, vừa gây lại được quan hệ hòa bình lâu dài giữa ta và nước láng giềng. Do đó các lãnh tụ nghĩa quân kiên trì chủ trương "vây thành diệt viện" - vây chặt giặc ở Đông Quan và đánh tiêu diệt các quân cứu viện của chúng.

Về phía giặc ở Đông Quan, chúng cũng biết rõ cái thế thua của chúng, nhưng vẫn hy vọng viện bình sang cứu, cho nên chỉ khi nào viện binh bị tiêu diệt thì chúng mới chịu hàng.

Nguyễn Trãi viết thư cho tướng giặc Vương Thông, khẳng định:

“Viện binh đến, thế tất phải thua, viện binh thua, bọn các ông tất bị bắt".

Và nghĩa quân Lam Sơn sẽ làm đúng như thế.

Để cắt đứt mọi liên lạc có thể có được giữa viện binh địch với quân đội của chúng trên các chiến trường Đại Việt, nghĩa quân Lam Sơn đã triệt hạ các thành mà quân Minh chiếm giữ trên hai con đường từ Đông Quan lên Lê Hoa phía Vân Nam và từ Đông Quan lên Pha Lũy (ải Nam Quan sau này) phía Quảng Tây. Duy còn thành Xương Giang (Bắc Giang) giặc chiếm giữ, nằm giữa con đường từ Đông Quan lên Pha Lũy là chưa hạ xong.

Nguyễn Trãi viết cho tướng giặc ở thành Xương Giang một bức thư khuyên chúng nên hàng. Thư có đoạn:

“Ta vâng theo mệnh trời, lấy đại nghĩa dẹp giặc. Nghĩ cơ đồ tổ tông nghiêng ngửa, thương dân chúng lầm than, đánh thành, lấy đất, không giết một người. Cho nên đánh đông dẹp tây, tới đâu thắng đấy. Thành Xương Giang nhỏ mọn dám trái mệnh, nên căm thù tiến đánh, nghĩa phải thế, việc không thể đừng. Nhưng, đem núi Thái Sơn đè lên quả trứng, "lực" không chịu nổi chốc lát, lấy lửa hồng thiêu đốt sợi lông, “thế” khó đương trong khoảnh khắc. Vả lại "dĩ thuận thảo nghịch, hà hoạn bất tòng, dĩ cường công nhược, hà ưu bất khắc" (lấy thuận đánh nghịch, lo gì không theo; lấy mạnh đánh yếu lo gì không thắng). Vậy mà còn một mực lấy lời khuyên dụ, chính vì coi mạng người trong thành làm trọng, không nỡ để thương vong...

Bọn các ngươi, nếu trên biết thiên thời, dưới hiểu nhân sự, thì sẽ giữ được lộc vị đến vô cùng, tránh cho cả một thành khỏi bị chém giết. Các người được tiếng là người tướng tri thức mà ta không mất tiếng là người tướng nhân nghĩa. Nếu như các người cứ mê muội không hiểu gì, thì đến ngày thành bị hạ, ngọc đá không phân biệt nữa, đó không phải vì ta bạo ngược mà chính là vì các người tự làm nên tội. Giờ là lúc còn mất nguy cấp vậy. Nên suy tính kỹ, đừng để sau phải hối".

Nhưng quân Minh ở đây ngoan cố chưa chịu hàng, chúng muốn chờ viện binh tới cứu. Nguyễn Trãi viếtthư dụ hàng lần nữa. Các lãnh tụ nghĩa quân cho Thái Phúc cùng mấy hàng tướng khác hai ba lần tới chân thành Xương Giang khuyên gọi giặc ra hàng. Quân Minh vẫn muốn chờ viện binh tới cứu.

Các tướng Trần Nguyên Hãn, Lê Sát đang vây thành được lệnh tiến công. Thành bị hạ. Toàn bộ tướng giặc phải tự tử. Phần lớn quân Minh bị bắt sống. Chiến thắng thật giòn giã.

Không nhận thư lui quân, chủ tướng giặc Liễu Thăng tan xác.

Viện binh của quân Minh chia làm hai đạo, do những tướng giỏi bậc nhất của chúng cầm đầu, theo hai đường tiến sang Đại Việt. Một đạo gồm năm vạn quân và một vạn ngựa do tướng Mộc Thạnh làm tổng binh và hai tướng Từ Hanh, Đàm Trung làm tả hữu phó tổng binh, theo đường Vân Nam tiến sang. Một đạo gồm 10 vạn quân, 2 vạn ngựa do tướng Liễu Thăng làm tổng binh, tướng Lương Minh là phó tổng binh, đô đốc Thôi Tụ làm hữu tham tướng và hai thượng thư làm tham tán quân vụ là Binh bộ thượng thư Lý Khánh và Công bộ thượng thư Hoàng Phúc. Khoảng đầu tháng 10 năm 1427, hai đạo viện binh của giặc tới gần biên giới Đại Việt.

Biết đạo quân Liễu Thăng sẽ vượt biên giới sang trước, nghĩa quân Lam Sơn chuẩn bị đánh đạo quân này. Khi 10 vạn quân của Liễu Thăng đánh vào cửa ải Pha Lũy, tướng nghĩa quân Lam Sơn trấn giữ Pha Lũy là Trần Lựu theo kế hoạch vừa chiến đấu vừa lui dần về Chi Lăng. Khi rút, Trần Lựu gửi cho Liễu Thăng một bức thư của Nguyễn Trãi. Thư viết:

"Ta nghe nói: vương giả chi sư, hữu chinh vô chiến; nhân nghĩa chi cử, vụ tại an dân (quân của vương giả dẹp mà không đánh, làm việc nhân nghĩa cốt để yên dân)...

Nay nghe đại nhân thốt nhiên tới biên cảnh. Vừa sợ vừa mừng. Đó là binh cứu viện chăng? Hay là binh tới để dựng lại nước đã diệt, nối lại dòng đã tuyệt chăng? Đã hơn hai mươi năm, binh họa liên miên. Quân lính Trung Quốc mười phần không còn một. Dân nước tôi cũng chết uổng nhiều. Được không bù lại mất. Thu vào chẳng bõ những cái mất đi. Nói tới những điều đó chắc các ông không thích nghe ...

... Nay các ông không nghĩ tới điều đó, đem quân trơ trọi đi sâu vào đất người, cầu mong lập công. Ta cho rằng các ông không thể làm nên chuyện gì. Vả nọc ong còn có độc, huống chi người cả nước ta, há lại không ai có mưu chí dũng lược sao. Các ông chớ thấy ta ít người mà coi thường. Đến lúc ấy, lòng thành của nước ta đối với nước lớn thật là thiếu, mà các ông thì hối không kịp...”

Liễu Thăng xem thư, tức khí, hăm hở cho quân theo đường Chi Lăng thẳng tiến.

Chi Lăng là một quan ải xung yếu nhất trên con đường từ Pha Lũy tới Đông Quan và đã là mồ chôn quân cướp nước ở nhiều thời đại trước. Với địa thế hiểm trở, ải Chi Lăng rất thuận lợi cho việc đặt mai phục của quân ta. Một vạn quân của các tướng Lê Sát, Lưu Nhân Chú, Lê Lĩnh, Đinh Liệt, Lê Thụ mai phục sẵn để chờ Liễu Thăng đến.

Khi Liễu Thăng còn cách vài dặm đường, tướng Trần Lựu và nghĩa quân từ trong Chi Lăng tiến ra đón đánh. Trần Lựu vừa đánh vừa lui. Liễu Thăng hăm hở đem một vạn quân tiên phong đi trước mở đường, tiến thẳng vào Chi Lăng. Không thấy quân ta, hắn chủ quan tưởng quân ta bỏ chạy, vội cùng hơn 100 kỵ binh băng lên đuổi, cả vạn quân tiên phong chạy theo sau. Liễu Thăng hung hăng xông xáo như vào chỗ không người. Tới cánh đồng lầy chân núi Mã Yên, có cầu bắc qua đồng lầy, Liễu Thăng và hơn 100 kỵ binh vượt sang khỏi cầu thì cầu sập. Quân tiên phong giặc bị chia cắt đội hình. Phục binh của ta bốn bề tung ra, đánh rất quyết liệt. Toàn bộ quân tiên phong của giặc bị giết, Liễu Thăng trúng lao, chết ngay tại trận.

Không nhận dụ hàng, tướng giặc Lương Minh bỏ mạng

Liễu Thăng chết trận, phó tổng binh Lương Minh lên thay cầm quyền chủ tướng. Nguyễn Trãi viết thư cho chủ tướng mới của giặc, trong thư có những đoạn:

" … Nay các ông đem quân đi sâu vào, chính là bị hãm vào thế trong miệng cọp, muốn tiến công không được, muốn lui không hay. Còn ta thì nhân thế chẻ tre, sau khi chẻ được mấy đốt, cứ lọng lưỡi dao mà chẻ đi, thực không khó gì...

Trước đây, các thành Tân Bình, Thuận Hóa, Diễn Châu, Nghệ An và Tiền, Hậu Vệ, Thị Kiều, Xương Giang, Tam Giang đều đã mở cửa thành, cởi áo giáp cùng ta hòa giải. Phàm hết thảy quan quân, đàn ông, đàn bà, lớn bé, cộng mấy vạn người, ta sai thu nuôi tất cả, không xâm phạm một chút nào. Xin các ông lui ngay quân ra ngoài bờ cõi, ta tự dẹp mở lối về, cho các ông được thung dung đem quân về, ta sẽ đem các quan lại đàn ông, đàn bà nói trên kia trao tất cả ở ngoài bờ cõi. Như thế thì các ông có thể ngồi hưởng thành công mà Nam, Bắc từ nay vô sự, há chẳng hay ư? Nếu có thể thôi được mà không thôi, là do các ông. . . ".

Quân giặc còn chín vạn người, vẫn là một đạo quân lớn, nên tướng giặc Lương Minh ngoan cố, vẫn cứ tiến xuống. Chúng tới Cần Trạm, quân mai phục của ta xông ra vây kín. Chủ tướng giặc Lương Minh bị giết trong vòng vây. Tham tướng giặc Thôi Tụ lên cầm quyền chủ tướng, vẫn ngoan cố tiến quân xuống Xương Giang.

Khi quân Minh tới Xương Giang thì thành đã bị quân ta đánh lấy từ trước, chúng tiến thoái lưỡng nan. Tuy vậy, lực lượng viện binh còn bảy vạn quân nên chúng vẫn chống lại. Không vào được thành Xương Giang, chúng đóng quân ở ngoài đồng, làm gấp công sự, dựng rào, đắp lũy và ngày đêm bắn pháo hiệu để báo tin cho quân của chúng ở hai thành Đông Quan, Bình Than tới cứu.

Nghĩa quân Lam Sơn tạm thời vây hãm chúng tại đây để đánh đạo quân Mộc Thạnh ở phía biên giới Vân Nam trước .

Vừa đánh vừa dàm, đánh tan quân Mộc Thạnh


Mộc Thạnh ở Vân Nam đóng quân gần biên ải Lê Hoa của ta. Tại biên ải có các tướng của nghĩa quân Lam Sơn là Phạm Văn Xảo, Trịnh Khả làm nhiệm vụ chặn đánh không cho đại quân Mộc Thạnh tiến sang. Sau khi vây hãm quân Thôi Tụ ở Xương Giang, các lãnh tụ Lam Sơn cho đưa tới Lê Hoa một tên chỉ huy, ba tên thiên hộ giặc bị bắt trong các trận Chi Lăng, Cần Trạm, cùng các sắc thư, phù tín, ấn chương của Liễu Thăng và một bức thư của Nguyễn Trãi, để các tướng của ta chuyển sang cho Mộc Thạnh.

Trong thư có những đoạn:

“Từ bấy đến nay, binh đao liền liền, tai họa chồng chất, hơn hai mươi năm, không lúc nào yên. Cái lấy được không bù nổi cái mất đi, số người bắt được không bù lại số người chết đi. Huống chi, nếu lấy được đất … không thể đem dân ... tới ở được, bắt được dân ... không thể dùng để phục dịch... Thê' thì việc được hay hỏng, lẽ phải hay trái, há chằng rõ ràng lắm ư? …

Ngày tháng 9 năm nay An Viễn hầu Liễu Thăng thống lĩnh đại quân tới địa phận thành Khâu Ôn. Ta hai ba lần đưa thư nói rõ thiên thời, nhân sự, nói đi nói lại không ngại nhiều lời. Nhưng Liễu công không cho lời nói của ta là đáng tin, mạo hiểm tiến quân vào sâu, chuyên việc chém giết.

Ngày 20 tháng 9, tiến quân đến ải Chi Lăng, quân sĩ giữ ải của ta không làm thê' nào được, phải chống cự. Liễu công chết mất xác tại trận tiền. Bảo định bá, Thôi đô đốc, Lý thượng thư cũng nối nhau chết nốt. Quân lính chạy trốn, tan tác hết...

Trước đây, các thành Tân Bình, Thuận Hóa, Diễn Châu, Nghệ An, Tiền Vệ, Xương Giang, Thị Cầu, Tam Giang, Trấn Di, đều ra thành, cởi giáp cùng ta hòa giải. Quan lại, quân nhân, cộng mấy vạn người, ta nhất nhất thu nuôi cả, không mảy may xâm phạm.

Nay hãy đem tướng sĩ của Liễu Thăng mà ta đã bắt được, trả về quân doanh. . . ".

Nhận được sắc ấn cùng mấy tỳ tướng của Liễu Thăng và đọc thư của Nguyễn Trãi, Mộc Thạnh quả thật lo ngại không dám tiến nữa mà đem quân chạy trốn. Nhưng các tướng của ta đã kịp thời đánh cho đạo quân Mộc Thạnh thiệt hại nặng nề tại hai nơi: Lãnh Câu và Đan Xá, gần biên giới Hà Tuyên ngày nay, giết chết hơn một vạn giặc, bắt hơn một nghìn tên và trên một nghìn ngựa, thu được rất nhiều khí giới, của báu và xe lương. Giặc bị chết đuối ở khe suối nhiều không kể xiết. Sử cũ ghi: quân địch hoàn toàn tan vỡ "Mộc Thạnh chỉ kịp một mình một ngựa chạy thoát thân" (Đại Việt sử ký toàn thư).

Nguyễn Trãi thuật lại chiến thắng rực rỡ này trong Bình Ngô đại cáo:

“Binh Vân Nam bị quân ta chặn đánh ở Lê Hoa, sợ mà vỡ mật.
Bọn Mộc Thạnh nghe quân Thăng thua to nơi Cần Trạm, bỏ chạy thoát thân. 
Lãnh Câu, máu chảy đầy dòng, nước sông nức nở.
Đan Xá, thây chồng khắp núi, cỏ nội đẫm hồng".

Từ chối dụ hàng, bảy vạn viện binh giặc bị tiêu diệt hoàn toàn

Đánh tan đạo quân Mộc Thạnh, các lãnh tụ nghĩa quân Lam Sơn quay sang định đoạt số phận quân địch ở Xương Giang. Bọn này đã thất bại thảm hại, lại bị vây hãm trong thành, ngày càng khốn đốn. Nguyễn Trãi và các lãnh tụ nghĩa quân có ý định cho chúng đầu hàng, tha cho chúng về nước như chủ trương đối với giặc ở Đông Quan và một vài thành khác chưa bị hạ. Vì thế, Nguyễn Trãi viết thư dụ hàng bọn Thôi Tụ. Chúng không trả lời. Nguyễn Trãi kiên trì đưa tiếp mấy thư. Có thư ông viết:

"Trước đây, mấy lần ta gửi thư, nói về lẽ thành bại của nước, nỗi vui buồn của dân. Những việc ấy có quan hệ với nhau rất nhiều. Người có chí vỗ yên bờ cõi, há chẳng lấy đó làm lo sợ. Ta không rõ những thư trước có tới nơi hay không? …

Nay An Viễn hầu Liễu đại nhân thống lĩnh đại quân vào nước ta, ta đã đưa thư nói rõ nên trên xét thiên thời, dưới coi nhân sự... Không may, các đại nhân cho là lời nói không đáng nghe, đem quân đi sâu vào nước ta, quân sĩ giữ bờ cõi của ta không làm thế nào khác được, cũng như chim cùng thì mổ, thú cùng thì vồ. Trong khi vội vàng, còn thì giờ đâu mà nghĩ đến lễ nghĩa. . .

Tính việc ngày nay, không gì bằng lui quân ra ngoài bờ cõi, ta lập tức trả hết những quân nhân đã bắt được ở các thành. Rồi đem thư của ta tâu rõ về triều. May ra lời bàn của triều đình ưng thuận, thì các ông có thể không mất tiếng tốt mà Nam, Bắc từ nay vô sự . . ".

Bọn tướng giặc Thôi Tụ vẫn lúng túng, không biết làm như thế nào, nên không trả lời. Nguyễn Trãi đưa một thư cuối cùng, như một tối hậu thư, nói rõ là mở đường về cho chúng và hẹn cho chúng trong ba ngày phải lên đường. Thư ông viết:

“Ta nghe nói: mưu việc từ khi việc chưa xảy ra thì dễ tính, để việc xảy ra mới tính, thì tính không kịp. Ta đã hai ba lần đưa thư, không ngại nói đi nói lại nhiều lời...

Nay ta đã răn bảo quân sĩ, rộng mở đường về, từ Cần Trạm đến Khâu Ôn, khi đại quân đi qua, sẽ không xâm phạm mảy may. Hạn trong ba ngày, các ông phải thu xếp lên đường. Trù trừ quá. hạn ấy là các ông thất tín, không phải lỗi tại ta. . .

Các ông còn nấn ná chưa đi, chắc có ý muốn trông chờ quân ở Đông Quan lên ứng cứu hoặc quân ủy Vân Nam sang tiếp viện. Nhưng, từ Đông Quan lên đây, chỉ một ngày đường, không cần phải cầu cũng có thể tự đến cứu được. Vậy mà cam tâm làm ngơ ngồi nhìn, không thấy đau xót thay. Thế thì điều các ông trông đợi ở quân Đông Quan là tuyệt vọng.

Còn như Kiều quốc công ở Vân Nam, trước đây cùng các ông vâng mệnh họp quân. Nhưng Kiều đại nhân, tuổi cao đức cả, sớm biết lẽ phải, hiểu rõ sự việc mới tới biên giới, lập tức cho người dò thăm hư thực, được tin trước đây thành trì các xứ Tam Giang, đều đã hòa giải, bèn lui quân về Lâm An, làm tờ tâu về triều. Ta cũng đem những quân nhân của các ông mà ta đã bắt được trao lại cho Kiều đại nhân và nói rõ việc An viễn hầu, Bảo định bá, Lý thượng thư bị chết. Kiều đại nhân hiện đã lui quân về Vân Nam. Như thế, bọn các ông trông đợi ở đạo quân Vân Nam cũng là tuyệt vọng nốt.

Hai mặt trông đợi đều đã tuyệt vọng. Quân nhân ngày một chết thêm, lương thực lại cạn, các ông còn chờ đợi gì mà nấn ná chưa đi? … Sao mà xét việc câu chấp, mưu việc lâu muộn thế "

Thư từ khuyên dụ như vậy, nhưng bọn Thôi Tụ vẫn ngoan cố đóng chặt trong thành, không tiến, không lui, cũng không cầu hòa. Chúng vẫn trông chờ quân cứu viện.

Nghĩa quân ở Xương Giang được lệnh tiến công địch. Mấy vạn quân ta xung phong quyết liệt. Hàng ngũ địch tan rã nhanh chóng. Hơn năm vạn địch bị giết tại trận. Hơn một vạn tên bị bắt trong đó có chủ tướng Thôi Tụ cùng hơn 300 tướng lĩnh. Nghĩa quân thu được rất nhiều ngựa, vũ khí, vàng bạc, lụa là đoạn vóc "từng đống, từng hòm, chứa chất như núi, không kể xiết". Trong bảy vạn quân địch, chỉ có một tên quan nhỏ trốn thoát, chạy về Trung Quốc.

Chiến thắng Xương Giang cùng với những chiến thắng Chi Lăng, Cần Trạm, Lãnh Câu, Đan Xá là những võ công to lớn. Trong vòng một tháng, ta đã tiêu diệt hoàn toàn 15 vạn viện binh và 3 vạn ngựa của địch, lần lượt giết hết các chủ tướng, bắt sống và cầm tù toàn bộ tướng lĩnh của địch. Những trận đại phá viện binh địch không những tiêu diệt gọn toàn bộ 15 vạn viện binh mà còn tiêu diệt cả ý chí cố thủ của 10 vạn quân địch trong thành Đông Quan; đúng như nhận định của Nguyễn Trãi: viện binh giặc bị diệt thì giặc trong thành phải hàng


 
Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết

  Ý kiến bạn đọc

  Ẩn/Hiện ý kiến

Mã chống spam   

Những tin mới hơn

 

Những tin cũ hơn

Thời điểm thi THPT QG

Bạn muốn tổ chức thi thử vào THPT QG khi nào?

Top