NGOẠI GIAO THỜI HỌ KHÚC, HỌ DƯƠNG

 - Người đăng bài viết: nguyễn thị linh  - Chuyên mục :  Đã xem: 15 

Trung tâm Dạy tốt giới thiệu tới bạn đọc bài viết NGOẠI GIAO THỜI HỌ KHÚC, HỌ DƯƠNG.

 

 

Tiếp theo cuộc khởi nghĩa của Bố Cái Đại Vương, trong nửa đầu thế kỷ thử IX, phong trào giải phóng ở ta lại nổ ra liên tiếp. Nhiều viên quan đô hộ nhà Đường bị giết hoặc bị đuổi về nước . Giữa thế kỷ thứ IX, nhà Đường tăng cường bộ máy đàn áp. Chúng cho một võ quan cao cấp của triều đình làm Tĩnh hải quân tiết độ sứ để cầm đầu toàn bộ binh quyền và chính quyền của chúng trên đất nước ta. Nhưng tiết độ sứ cũng không làm gì được. Thế và lực của nhà Đường sụp đổ tới nơi. Từ thế kỷ thứ VIII, phong trào nông dân Trung Quốc khởi nghĩa chống nhà Đường đã liên tiếp nổ ra, mạnh nhất là ở các vùng biên cương. Tại các nước bị nhà Đường đô hộ, không phải chỉ có nước ta chống đối lại, mà ở các nước bị đô hộ khác là An Đông, An Tây, An Bắc phong trào đấu tranh giành độc lập cũng rất quyết liệt. Cho nên từ giữa thế kỷ thứ VIII, triều đình nhà Đường đặt ra chức tiết độ sứ là một chức võ quan cao cấp có quyền tổng chỉ huy tất cả quân đội ở khu vực biên cương Trung Quốc và những nước ở gần biên cương bị nhà Đường đô hộ. Tiết độ sứ có toàn quyền về quân sự để chỉ huy dập tắt những phong trào khởi nghĩa của nông dân trong nội địa Trung Quốc và trấn áp các phong trào giải phóng ở các nước bị đô hộ bên ngoài biên cương. Do tình hình rối loạn trong nước ngày càng tăng, việc liên lạc giữa triều đình nhà Đường với miền biên cương ngày càng khó khăn, các tiết độ sứ dần dần nắm cả mọi quyền hành chính, tài chính, nghiễm nhiên trở thành những ông vua thật sự ở miền biên cương, thay mặt triều đình nhà Đường giải quyết tất cả mọi việc ở địa phương. Có những tiết độ sứ tách khỏi quyền chi phối của triều đình nhà Đường, biệt lập thành một giang sơn riêng. chỉ thỉnh thoảng mới triều cống vua Đường. Họ tự truyền chức cho nhau, cha truyền cho con hoặc anh truyền cho em, gọi là quyền "Lưu hậu”, vua Đường đành chịu. Họ tự tuyên bố quan lại văn võ, tự định đoạt mọi việc quân, việc dân ở địa phương không cần thỉnh thị triều đình, vua Đường cũng đành chịu.

Tĩnh hải quân tiết độ sứ của nhà Đường đặt ở nước ta cũng có quyền hành lớn như vậy, nhưng hoàn toàn bất lực, vì phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc của người Việt Nam ngày càng lên cao.

Cuối thế kỷ thứ IX, những binh lính người Việt dưới quyền tiết chế của tiết độ sứ nhà Đường đã nổi lên làm một cuộc binh biến rất lớn, đánh đuổi tiết độ sứ cùng toàn bộ quan lại, quân sĩ của chúng về nước. Cả nước sạch bóng quân xâm lược. Một người anh hùng dân tộc là Khúc Thừa Dụ lên cầm quyền trị nước, chấm dứt ách thống trị của bọn xâm lược nhà Đường.

Về đối nội, nhân dân ta từ đây tự tổ chức lấy chính quyền độc lập của mình. Về đối ngoại, Khúc Thừa Dụ thi hành một chính sách mềm dẻo nhằm ngăn chặn nhà Đường mưu đồ tái chiếm nước ta, để ta rảnh tay xây dựng đất nước. Do đấy, Khúc Thừa Dụ tự nhận mình là tiết độ sứ, thay mặt nhà Đường cầm quyền ở Việt Nam. Với phương thức đối ngoại này của Khúc Thừa Dụ, quan hệ giữa nước ta và nhà Đường tưởng như không có gì khác trước, nhưng về căn bản rất khác. Khác ở chỗ người Việt Nam tự cai trị người Việt Nam, nước Việt Nam hoàn toàn tự chủ. Tự nhận mình là tiết độ sứ, Khúc Thừa Dụ một mặt buộc triều đình nhà Đường phải chấp nhận, vì nhà Đường lúc này tổ chức được một cuộc hành quân mới để xâm lược nước ta cũng rất khó, nên ưng thuận để không mất thể diện; mặt khác ta ngăn chặn được các tiết độ sứ ở miền biên cương gần nước ta không thể lợi dụng thời cơ lấy danh nghĩa nhà Đường để đánh phá ta, vì ta vẫn nhận thần phục nhà Đường.

Chủ trương ngoại giao hòa hoãn, mềm dẻo của Khúc Thừa Dụ tạo điều kiện cho nhân dân ta và họ Khúc giữ vững chủ quyền dân tộc trong khoảng nửa thế kỷ. Nhưng không phải vì thế mà giặc ngoài đã chịu từ bỏ dã tâm xâm lược của chúng.

Năm 907 Khúc Thừa Dụ mất và cũng là lúc Trung Quốc bước vào thời kỳ đại loạn, gọi là thời "Ngũ đại thập quốc" tức “Năm triều đại mười quốc gia". Năm triều đại nối tiếp nhau ở triều đình trung ương và mười quốc gia lần lượt xuất hiện trong nội địa Trung Quốc. Thoạt đầu là nhà Đường bị diệt, nhà Hậu Lương cướp ngôi. Ở ta, con Khúc Thừa Dụ là Khúc Hạo lên cầm quyền thay cha, và ngay năm 907 cho người sang giao hảo với triều đại mới ở Trung Quốc là nhà Hậu Lương. Nhà Hậu Lương buộc lòng phải thừa nhận Khúc Hạo làm tiết độ sứ. Nhưng năm sau (908), Hậu Lương lại phong cho tiết độ sứ ở Quảng Châu (tức Quảng Đông) kiêm nhiệm cả chức tiết độ sứ ở nước ta. Điều này là một chứng minh lịch sử cho thấy: dù trong nước có lâm vào cảnh đại loạn, rối ren thế nào chăng nữa, các tập đoàn phong kiến Trung Quốc cũng không từ bỏ dã tâm xâm chiếm nước ta.

Nhưng viên tiết độ sứ Quảng Châu, mặc dầu được nhà Hậu Lương phong cho kiêm nhiệm tiết độ sứ An Nam, cũng không dám sang nhận chức ở nước ta. Mười năm sau (tức năm 917), tiết độ sứ Quảng Châu là Lưu Cung chống lại triều đình trung ương, lập nước riêng ở Quảng Châu, xưng hoàng đế, đóng đô ở Phiên Ngung, sách sử gọi là nhà Nam Hán. Bọn Lưu Cung cũng có tham vọng bành trướng xuống phía Nam, đánh cướp nước ta, nhưng lúc ấy (năm 917 - 918 ) Nam Hán sức còn yếu, phạm vi thế lực chỉ mới trong khu vực Quảng Đông và một phần Quảng Tây nên vẫn phải giao hảo với ta. Lúc ấy, ở ta Khúc Hạo đã mất, con là Khúc Thừa Mỹ làm tiết độ sứ.

13 năm sau, tức năm 930, nước Nam Hán có một quá trình đánh đông, cướp tây, đã mạnh hơn trước, nên Lưu Cung vua nước Nam Hán cho một đạo quân bất thần đánh sang nước ta. Khúc Thừa Mỹ không kịp đối phó, bị sa vào tay quân cướp nước. Đạo quân xâm lược tiến xuống tới châu Ái (miền Thanh Hóa bây giờ) thì bị một danh tướng của Khúc Thừa Mỹ là Dương Đình Nghệ ở châu Ái đánh bật trở lại. Quân Nam Hán phải rút ra miền đồng bằng Bắc Bộ. Nhưng chúng không thể ở yên.

Chỉ mấy tháng sau (tháng 3 năm 931), Dương Đình Nghệ đem toàn bộ quân đội của mình tiến ra Bắc đánh giặc. Tướng giặc là Lý Tiến hoảng sợ, phải phi báo về triều đình Nam Hán xin thêm quân. Vua Nam Hán là Lưu Cung cho tướng Trần Bảo đem quân sang cứu nguy. Quân Trần Bảo chưa tới nơi, tướng giặc Lý Tiến đã bị quân ta đánh cho đại bại, phải chạy trốn về nước. Dương Đình Nghệ cùng toàn bộ đại quân tiến vào đóng trong thành Đại La (tức Hà Nội bây giờ).

Quân địch cùng chủ tướng Trần Bảo sang tới nơi, định vây thành Đại La thì bị quân ta đánh tập kích rất mạnh. Toàn bộ quân giặc bị tiêu diệt, Trần Bảo chết tại trận. Nam Hán không dám tiến quân sang nữa.

Đầu năm 932, Dương Đình Nghệ lên cầm quyền trị nước. ông cũng làm theo họ Khúc, vẫn xưng là tiết độ sứ. Sử sách không ghi rõ là tiết độ sứ của triều đình nào ở Trung Quốc trong thời kỳ "Ngũ đại thập quốc” đó. Đây cũng chỉ là một kế sách đối ngoại mềm dẻo của Dương Đình Nghệ, tỏ ra không cắt đứt quan hệ "phiên thần" đối với các triều đình Trung Quốc, nhưng thật ra chẳng thuộc triều đình nào trong cái "Ngũ đại thập quốc" ấy.


 
Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết

  Ý kiến bạn đọc

  Ẩn/Hiện ý kiến

Mã chống spam   

Những tin mới hơn

 

Những tin cũ hơn

Thời điểm thi THPT QG

Bạn muốn tổ chức thi thử vào THPT QG khi nào?

Top