Đông Nam Á thời đại Đá Mới

 - Người đăng bài viết: nguyễn thị linh  - Chuyên mục :  Đã xem: 15 

Trung tâm Dạy tốt giới thiệu tới bạn đọc bài viết Đông Nam Á thời đại Đá Mới .

 

 Đông Nam Á thời đại Đá Mới 

Vào cuối giai đoạn đá mới, cư dân đã mở rộng không gian sinh tồn của mình. Cùng với việc chiếm lĩnh các bãi bồi lớn ven sông, các dải cát ven biển… là việc thay đổi về lối sống, về văn hoá. Sự kiện môi trường quan trọng nhất trong thời kỳ này là đợt biển tiến Holocene trung và quá trình hình thành các đồng bằng ven biển.

Phụ thuộc vào địa bàn phân bố, định hướng kinh tế và lối sống của các nhóm cư dân này mang tính chất địa phương rõ nét. Trong giai đoạn này nghề gốm bắt đầu phát triển, bên cạnh đó do sự quy định của điều kiện tự nhiên – sinh thái, nghề khai thác thuỷ hải sản chiếm một vị trí quan trọng trong đời sống cư dân cổ. Một đặc điểm nữa là nghề trồng trọt đã được triển khai, nhất là ở giai đoạn muộn.
Giai đoạn cuối của thời đại đá mới được đánh dấu bằng sự thiết lập và tồn tại của nhiều văn hoá nhiều nhóm di tích ở tất cả các địa bàn, từ rừng núi, trung du đến vùng ven biển và hải đảo. Nhìn chung các di chỉ khảo cổ học giai đoạn này có diện tích rộng lớn, tầng văn hoá nhiều nơi dày và ổn định. đã xuất hiện các loại hình di tích khác nhau như cư trú, cư trú – xưởng chế tác, cư trú – mộ táng, mộ táng…
Đặc trưng văn hoá nổi bật của giai đoạn này là sự bắt đầu thực sự của cuộc “Cách mạng đá mới”, hay “Đá mới hoàn toàn”. Sự xuất hiện của những nơi định cư làm nông nghiệp và cư dân sống tập trung thành làng. Đó cũng là nguyên nhân hình thành tính địa phương của văn hoá. Sự khác biệt về lối sống và nếp sống ngày càng rõ rệt hơn. Cái chung, là một nền văn hoá sản xuất bắt đầu phát sinh và phát triển, với sự vượt trội của trồng trọt đa canh so với chăn nuôi.

Trồng trọt phát triển ở thời đá mới, thì đã có nét đặc thù của trồng nước và trồng khô, trồng hạt và trồng củ. Ở thung lũng, lúa nước phát sinh rồi phát triển hơn là khoai nước; ở ven biển cát dài, củ khoai phát triển nhiều hơn lúa. Và nương vườn trồng rau bầu và cây ăn quả nhiều hơn trong khi đồng ruộng trồng ngũ cốc nhiều Theo một số nhà khảo cổ học Việt Nam, với văn Hoà Bình và Bắc Sơn nổi tiếng ở Việt Nam và Đông Nam Á (khoảng 10.000 năm cách đây) các nhóm cư dân sống ở chân núi, dải đất ven sông bên cạnh hái lượm và săn bắt đã bắt đầu có những tri thức đầu tiên về trồng trọt. Cho đến tận ngày nay kể cả ở vùng Hoà Bình, thực vật bao phủ vẫn gồm cả đậu, củ từ và khoai sọ / nước. Có một số chứng cứ không trực tiếp ở những lớp trên của hang Hoà Bình người ta tìm thấy rìu mài lưỡi được xem là liên quan đến hoạt động phát rừng. Những hiện vật lớn có hình dạng giống cuốc tìm được ở Xóm Trại có những vết sử dụng như làm đất. Ở Xóm Trại cũng đã thấy vết tích gạo. Theo phân tích của chuyên gia nông học Đào Thế Tuấn, lớp dưới là loại hạt dài, lớp trên cả hạt dài và tròn. Ông cho rằng có một quá trình tăng dần của thuần hoá lúa. Tuy vậy, địa tầng phía trên ở Xóm Trại bị xáo trộn giống như nhiều hang Hoà Bình khác nên những hạt gạo có mặt tại đây chưa thể được xác định niên đại một cách chắc chắn.

Những chứng cứ về nông nghiệp thời đại đá mới Việt Nam cho đến nay chỉ là những bằng chứng gián tiếp chứ không phải là vết lúa gạo (thậm chí cũng rất hiếm trong thời đại kim khí). Đó là gốm, cuốc đá, dao cắt, bàn đập vỏ cây, dọi xe chỉ, đá buộc gậy chọc lỗ…

Trên cơ sở tài liệu phát hiện được ở Thái Lan và Việt Nam trong điều kịên nghiên cứu hiện nay chúng ta có thể chấp nhận được giả thiết của Ho Pingti cho rằng Đông Á gió mùa cụ thể là Trung Hoa từ phía nam sông Dương Tử và Đông Nam Á lục địa và hải đảo một khu vực quanh năm khí hậu ấm nóng và rất giàu nguồn thực vật. Đông Á gió mùa này từ gốc thu lượm thực vật có thể là nơi phát nguồn của nghề làm vườn trồng cây ăn quả, củ… và vào giai đoạn cuối hệ sinh thái nông nghiệp đã bắt đầu đa dạng và loại hình nông cụ cũng đa dạng hoá tiếp theo đó, và đồ gốm nặn bằng tay càng đa dạng hoá hơn nữa, với đáy tròn, đáy nhọn hay là đáy phẳng cùng của loại miệng thích nghi…

Những điều kiện định cư lâu dài và sự phát triển của nông nghiệp sơ khai đã làm hình thành rõ nét tính địa phương của văn hoá trong những khu vực hẹp vào cuối thời đá mới (cách đây khoảng 5.000 năm). Bốn khu vực văn hoá hậu kỳ đá mới với những đặc trưng riêng về loại hình công cụ đá và kỹ thuật chế tác, trang trí đồ gốm đã được xác định một cách khái quát bao gồm: 1. Đông Nam Á lục địa (trừ bán đảo Malacca); 2. Đông Nam Trung Quốc – Đài Loan – Philippines (và có thể một số vùng phụ cận như Đông Bắc Việt Nam, miền Trung Celebes); 3. Mã Lai – tây Indonesia; 4. Miền đông Indonesia, một phần bắc Celebes (và vùng chịu ảnh hưởng của nó là Melanesia)14.
Những văn hoá và địa điểm trung và hậu kỳ đá mới đáng chú ý ở Đông Nam Á đó là những văn hoá phân bố ở nội địa và ven biển Việt Nam như Cái Bèo, Hạ Long, Đa Bút, Thạch Lạc, Quỳnh Văn, Bàu Tró… ở Thái Lan có di chỉ Don Noi (Bo Ploi), văn hoá Ban Kao… cũng giống như ở Việt Nam, giữa các vùng khác nhau của Thái Lan cũng có tỉ lệ không đều của các loại hình rìu. Rìu có vai thường thấy ở Bắc và đông bắc Thái Lan, rìu không có vai phổ biến ở vùng Nam Thái Lan, đặc biệt trong văn hoá Ban Kao.

Theo Bellwood, sự xác định của thời đại đá mới muộn ở Đông Nam Á hải đảo dựa chủ yếu trên sự xuất hiện rộng rãi của gốm được trang trí (thường là văn in hay khắc vạch) ở một phần Phillipines và miền đông Indonesia sau năm 1500 BC. Giai đoạn này cũng bao gồm cả gốm Yuan-Shan (Trường Tân hay Ty Nam) của miền bắc và miền đông Đài Loan. Mộ chum có thể phát triển ở Phillipines và Sarawak từ khoảng năm 1.000 BC trở đi và giai đoạn này trên thực tế đã đạt tới giai đoạn kim khí sớm với đồng đỏ, đồng thau, sắt, hạt chuỗi thuỷ tinh, và sự phổ biến rộng khắp của mộ chum vào cuối Thiên niên kỷ I trước Công nguyên.

Những văn hoá đá mới muộn điển hình: Văn hoá Lapita ở miền Đông Oceania, Văn hoá đá mới ở Hang Niah miền tây Indonesia, Văn hoá đá mới Ban Kao ở Nam Thái Lan và Malaysia.

Thời kỳ này cũng xuất hiện những tín ngưỡng nguyên thuỷ. Là cư dân nông nghiệp nên mưa, gío và đặc biệt là mặt trời đã trở thành một trong những thần linh quan trọng đối với con người.
Về loại hình công xã thời hậu kỳ Đá mới giới nghiên cứu đều thống nhất cho rằng đó là loại hình công xã thị tộc phát triển. Mặc dù đã đạt được những tiến bộ đáng kể trên con đường phát triển song trong cái thế giới hoàn toàn gỗ đá ấy, trình độ kinh tế-xã hội dù có được nâng dần lên nhưng thật chưa có chuyển biến căn bản. Xã hội đến đây vẫn hoàn toàn là xã hội nguyên thuỷ.


 
Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết

  Ý kiến bạn đọc

  Ẩn/Hiện ý kiến

Mã chống spam   

Những tin mới hơn

 

Những tin cũ hơn

Thời điểm thi THPT QG

Bạn muốn tổ chức thi thử vào THPT QG khi nào?

Top