Đông Nam Á hải đảo

 - Người đăng bài viết: nguyễn thị linh  - Chuyên mục :  Đã xem: 20 

Dạy tốt giới thiệu tới bạn đọc bài viết Đông Nam Á hải đảo.

 

Đông Nam Á hải đảo

Nhìn chung các học giả cho rằng, những hiện vật kim loại đầu tiên xuất hiện ở Đông Nam Á hải đảo tương đối muộn, vào những thế kỷ cuối trước Công nguyên. Mặc dù quặng đồng khá phổ biến ở Luzon, Nam Java và Sumatra, thiếc lại có ở dãy đảo Bangka, Belitung ở phía bắc Malaysia đến miền trung Thái Lan.

Thời đại kim khí khu vực này mang những đặc điểm văn hoá khá độc đáo, sự phân kỳ và tên gọi các giai đoạn thể hiện quá trình tiếp thu và hội nhập nhiều những yếu tố ngoại sinh trên nền nội sinh vững chắc. Tiền sử Indonesia chẳng hạn đã được Soejono phân kỳ và đặt tên theo kiểu kiếm sống thành: săn bắt – hái lượm; nông nghiệp; và thủ công nghiệp…

Dựa vào những phát hiện khảo cổ tại khu vực, các học giả đã phác hoạ diễn biến văn hoá giai đoạn từ thiên niên kỷ I trước Công nguyên đến khoảng nửa đầu thiên niên kỷ I sau Công nguyên tức Giai đoạn kim khí sớm (hay cổ kim loại) Giai đoạn kim khí sớm bắt đầu bằng việc xuất hiện của những hiện vật đồng đỏ và đồng thau (theo Bellwood đồng đỏ và đồng thau không thể phân biệt bằng mắt trong bối cảnh khảo cổ học và việc sử dụng chung thuật ngữ “bronze” có thể gây ấn tượng trong một số trường hợp, nhất là ở Indonesia). Rất nhiều những hiện vật được gọi là “bronze” có thể đơn giản là copper, song nếu không có phân tích thì dễ bị nhầm lẫn. Hiện vật bằng sắt và luyện kim đen có nhiều khả năng là từ những nguồn trực tiếp ở Đông Nam Á lục địa trong khoảng những thế kỷ cuối trước Công nguyên. Học giả Bellwood đã lấy mốc năm 500 trước Công nguyên, mặc dù cho tới nay chưa có hiện vật kim loại nào ở hải đảo có niên đại sớm như vậy. Bellwood cũng cho rằng những tổ hợp thời đại kim khí ở đây có thể được gọi là thuộc “giai đoạn Đồng – Sắt” theo thuật ngữ của Heekeren (1958). Mặc dù kim loại xuất hiện muộn và có nguồn gốc từ bên ngoài, song cư dân hải đảo đã chế tác nhiều loại hình địa phương độc đáo như trống đồng Pejeng, bao ngón tay, vòng đeo tay bản rộng… Những năm gần đây đã có những cuộc khai quật có hệ thống được tiến hành ở một số địa điểm nằm trong thời gian chuyển biến từ Sơ sử sang Lịch sử sớm ở bán đảo Thái Lan, Malay và Indonesia. Tư liệu của những cuộc khai quật này giúp soi rọi nhiều vấn đề liên quan đến mối quan hệ văn hóa, nguồn lực và nền tảng hình thành nhà nước sớm ở Đông Nam Á hải đảo.

Địa điểm Khuan Luk Pad (Đồi hạt chuỗi) ở tỉnh Krabi, bên bờ tây nam của bán đảo Thái Lan. Địa điểm này được xác định là nơi sản xuất hạt chuỗi đá và thủy tinh vào nửa đầu thiên niên kỷ I. Sự chuyển việc sản xuất hạt chuỗi từ Ấn Độ sang các địa điểm ven biển Đông Nam Á được các nhà nghiên cứu diễn giải là do tăng cường sự năng động của hoạt động trao đổi, buôn bán liên vùng và nội vùng.

Phần lớn những địa điểm cư trú lớn với chứng cứ về buôn bán và phát triển các ngành nghề thủ công đã được phát hiện dọc theo eo biển Malacca, là con đường huyết mạch nối giữa biển Đông Nam Á với Ấn Độ Dương. Tại Indonesia, những địa điểm tương tự cũng đã được khai quật ở bờ biển Sumatra (ví dụ như Karang Agung, Air Sugihan) và Tây Java (Buni) và xa hơn nữa về phía đông ở Sembirang, bờ bắc Bali… Điều đó cho thấy có sự nở rộ của những trung tâm dân cư lớn quanh đường giao thông quan trọng trong mạng lưới trao đổi, buôn bán từ nội địa ra đến ven biển và biển.

Nói chung, khảo cổ học Đông Nam Á hải đảo thiên niên kỷ I trước Công nguyên đến thiên niên kỷ I sau Công nguyên nổi bật lên một số vấn đề căn bản. Đó là:

1. Sự lan toả của cư dân ngữ hệ Nam Đảo (Austronesian) trong mối liên hệ với nghề trồng lúa nước và 2. Truyền thống mộ chum; 3. Quá trình Nam tiến của trống đồng Đông Sơn với sự hình thành nhà nước sớm…

I.5.1. Nguồn gốc và sự lan toả của cư dân Nam Đảo và trồng lúa nước: Các nhà nghiên cứu khá thống nhất khi cho rằng, nghề trồng lúa nước cùng với sự hình thành những cộng đồng cư dân nông nghiệp sớm ở Đông Nam Á hải đảo là kết quả của quá trình lan toả của các nhóm người thuộc ngữ hệ Nam Đảo từ lục địa và hội nhập giữa các nhóm người làm nông – dân di cư với các nhóm người săn bắt, hái lượm bản địa. Các nhà nghiên cứu mặt khác có nhiều ý kiến khác nhau về con đường di dân và lan toả văn hoá này, trong số đó nổi bật là ý kiến của học giả Bellwood và Solheim.

Trong những nghiên cứu gần đây của mình Bellwood đã khẳng định thêm những luận điểm của mình về sự lan toả của cư dân ngữ hệ Austronesian và trồng lúa nước ở Đông Nam Á hải đảo. Theo đó, sự lan toả đầu tiên của những ngôn ngữ Austronesian, Tai – Kadai (và có thể cả Austroasiatic) bắt đầu trong những cộng đồng đá mới trồng lúa ở Trung Hoa phía nam sông Dương Tử vào khoảng giữa năm 5.000 và 4.000 BC. Blust khôi phục lại quá trình này. Bắt đầu từ Đài Loan (nơi phân bố của những ngôn ngữ cổ Austronesian (gồm cả Proto Austronesian), sau đó là Phillippines, Borneo và Sulaweri, cuối cùng chia đôi: Đi về phía tây tới Java, Borneo và Sulaweri và đi về Đại dương Oceania. Bellwood đã bổ sung rằng, trong giai đoạn ngôn ngữ khi cắt từ phần Proto An có thể đã xuất hiện một số thuộc địa với kinh tế nông nghiệp di chuyển qua eo Formosa từ Trung Hoa lục địa đến Đài Loan và ở đây đã phát triển thành (những) ngôn ngữ Austronesian sớm (ban đầu), và sau một vài thế kỷ một số cư dân nói một trong những ngôn ngữ này đã làm những đợt di chuyển đầu tiên đến Luzon và Phillippines. Sự di chuyển này đã chia Austronesian thành hai: Formosan và Malayo-Polynesian.

Chứng cứ khảo cổ học thời đại đá mới ở Đài Loan bắt đầu khoảng 3.000-4.000 BC với những tổ hợp khảo cổ dạng nam Trung Hoa, có thể lúc đầu được mang tới bởi những nhóm nhỏ của những cư dân nông nghiệp đi qua eo biển Formosa từ Phúc Kiến. Vào khoảng 3.000 năm TCN ở Đài Loan đã xuất hiện lúa gạo. Từ giữa năm 2500-1500 TCN, những tổ hợp khảo cổ học có đặc trưng là đồ gốm trơn và áo đỏ chứ không phải là loại gốm Đài Loan sớm văn thừng đã xuất hiện ở vùng bờ biển và những vùng thuận lợi trong đất liền của Phillipines, Sulawesi, Bắc Borneo, Halmahera và (với lợn nuôi) tới cực nam là Timor. Chưa có một địa điểm nào giai đoạn này được phát hiện ở Indonesia, song những nghiên cứu bào tử phấn hoa ở vùng cao nguyên tây Java và Sumatra cho thấy có một sự phát quang rừng làm nông nghiệp ít nhất là vào khoảng thiên niên kỷ II trước Công nguyên hay có thể còn sớm hơn nữa.
Nguyên nhân lan toả theo Bellwood: Những thuộc địa nông nghiệp của cư dân nói tiếng Austronesian (Nam Đảo) có một sự di cư liên tục, trong một giai đoạn khoảng 4.000 năm, từ vùng tâm điểm nông nghiệp Nam Trung Hoa qua hàng ngàn cây số bờ biển và đi qua vùng biển rộng đông tiến vào Thái Bình Dương.

Chứng cứ khảo cổ học cho thấy cư dân đá mới đã chiếm cư toàn bộ vùng Đông Nam Á lục địa, kể cả bán đảo Mã Lai ít nhất là từ 2.000 trước Công nguyên. Những tương đồng nổi bật về khảo cổ học của tất cả những văn hóa này nằm ngay trong đất liền hơn là đi qua tới những đảo. Có thể giả thiết rằng phần đông những cư dân nông nghiệp của Thái Lan, Đông Dương và Bán đảo Mã Lai lúc bấy giờ nói những ngôn ngữ có quan hệ gần gũi với ngữ hệ Austroasiatic hiện đại. Ở miền Trung và Nam Việt Nam, tổ tiên của cư dân nói tiếng Chamic Austronesian xem ra đã xâm nhập vào khu vực nơi đã có cư dân ở đông đúc là những cư dân nông nghiệp sớm hơn. Sự hiện diện có trước của những cư dân nông nghiệp ở Mã Lai và Việt Nam đã giải thích tại sao lục địa Đông Nam Á chỉ có những cộng đồng cư dân tiền sử Austronesian nhỏ cư trú xen cài cùng cư dân Austroasiatic.

Như vậy, theo các nhà nghiên cứu, trồng lúa ở Đông Nam Á lục địa có trước nghề trồng lúa ở Đông Nam Á hải đảo và sự xuất hiện của lúa được coi là kết quả của sự xâm nhập của cư dân Nam Đảo từ nam Trung Hoa qua Đài Loan vào hải đảo vào khoảng 2.500-2.000 BC. Tuy vậy, Higham cho rằng không có những chứng cứ về trồng lúa ở thời gian trên ở Đài Loan tại các địa điểm thuộc văn hoá Dapenkeng. Soilhem cũng theo thuyết truyền bá song ông cho rằng cư dân thuộc ngữ hệ Austronesian đã tới Đông Nam Á hải đảo và đảo Thái Bình Dương dọc qua bờ biển phía đông của Đông Nam Á lục địa hơn là qua bán đảo Đài Loan17. Vết tích lúa tìm thấy trong đồ gốm ở một số địa điểm như Gua Sireh (Sarawak) có niên đại 2923-1603 trước Công nguyên18.

I.5.2. Truyền thống mộ chum: Truyền thống chôn cất sử dụng quan tài là những chum gốm lớn phân bố chủ yếu ở Đông Nam Á hải đảo, ở Đông Nam Á lục địa táng thức này không phổ biến lắm và chỉ thấy đậm đặc ở miền Trung và Nam Việt Nam (trong văn hoá Tiền Sa Huỳnh và Sa Huỳnh), một số vùng ở Thái Lan… Dù chung một táng thức nhưng có rất nhiều biểu hiện mang tính địa phương, tạo thành những dạng văn hóa mộ chum khác nhau.

Truyền thống mộ chum ở Đông Nam Á được chia thành hai giai đoạn phát triển. Giai đoạn sớm có niên đại vào khoảng thiên niên kỷ I-II TCN với hành loạt các di tích ở Phillippines, Indonesia, Malaysia và ven biển Miền Trung Việt Nam. Chum vò có nhiều dạng khác nhau và có loại trang trí hình người rất riêng ở Phillippines, thể hiện quan điểm thẩm mỹ độc đáo và tín ngưỡng về sự tồn tại của linh hồn.

Trong những mộ chum giai đoạn sớm này, hiện vật tuỳ táng phần lớn là đồ gốm, trang sức bằng đá ngọc và mã não, chưa thấy đồ tuỳ táng bằng kim loại, thuỷ tinh và canelia. Giai đoạn muộn (hay kim khí sớm, kim khí phát triển…), mộ chum phân bố rất rộng, có nhiều khu mộ địa lớn với khối lượng lớn và đa dạng về loại hình của đồ tuỳ táng và đã xuất hiện hiện vật chôn theo bằng kim loại, thuỷ tinh… Nhiều hiện vật có nguồn gốc ngoại lai cũng đã được tìm thấy19. Đồ tùy táng trong các khu mộ chum giai đoạn này ở Đông Nam Á hải đảo giống như trong các khu mộ chum văn hóa Sa Huỳnh ở miền Trung Việt Nam phản ánh rõ ràng sự phân hóa về của cải và sự hình thành những xã hội phân tầng.
I.5.3. Quá trình Nam tiến của trống đồng Đông Sơn với sự hình thành nhà nước sớm: Cho tới nay, đã có một số lượng đáng kể trống đồng Đông Sơn được phát hiện ở Đông Nam Á. Phần lớn trống tìm thấy là đồ tùy táng của mộ. Những mộ có trống chôn theo đã được xác định là mộ của thủ lĩnh hay của người đứng đầu trong xã hội, dạng “Big man”20. Sự lan tỏa của trống đồng Đông Sơn một mặt minh chứng cho sự ảnh hưởng sâu sắc của văn hóa Đông Sơn ở Đông Nam Á, mặt khác trống đồng Đông Sơn được xem như những biểu tượng quyền lực và gắn với sự hình thành nhà nước sớm ở Đông Nam Á.

Những trống Đông Sơn ở Đông Nam Á mà cụ thể là ở Lào, Thái Lan, bán đảo Malay và Indonesia thường có niên đại từ thế kỷ III trước Công nguyên đến thế kỷ I Công nguyên. Sự có mặt của những trống này được giải thích bằng nhiều nguyên nhân. Đó là, do áp lực bành trướng của Trung Hoa (Hán), văn hóa Đông Sơn đã Nam tiến và do quá trình lớn mạnh của những xã hội mới với nhu cầu của những người đứng đầu coi trống như một biểu trưng về quyền lực. Trống thường được tìm thấy ở những địa điểm mang tính chiến lược trên những tuyến giao thông và chuyên chở đường sông. Không những nhập trống từ quê gốc là miền bắc Việt Nam, trống đồng theo truyền thống trống Đông Sơn còn được sản xuất tại Thái Lan hay một địa điểm khác ở Đông Nam Á để đáp ứng nhu cầu của những tổ chức xã hội với cơ cấu mới đang hình thành và phát triển, điển hình là trống Salayar tìm thấy ở miền đông Indonesia. Một số trống có kích thước rất lớn tìm thấy ở miền đông Indonesia lại được xác định có nguồn gốc tại Việt Nam, nói một cách khác chúng được sản xuất tại Việt Nam chỉ nhằm mục đích xuất khẩu21.

Tuy chưa có thể nhất trí hoàn toàn với những ý kiến trên của nhà nghiên cứu Imamura, đặc biệt về việc sản xuất trống ở Việt Nam với mục đích xuất khẩu. Tuy vậy, có thể thấy rằng văn hóa Đông Sơn có một ảnh hưởng rất lớn ở Đông Nam Á và trống đồng Đông Sơn thực sự là biểu tượng cho quyền lực và sức mạnh của những người đứng đầu trong xã hội.


 
Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết

  Ý kiến bạn đọc

  Ẩn/Hiện ý kiến

Mã chống spam   

Những tin mới hơn

 

Những tin cũ hơn

Thời điểm thi THPT QG

Bạn muốn tổ chức thi thử vào THPT QG khi nào?

Top