ĐỖ KHẮC CHUNG

 - Người đăng bài viết: nguyễn thị linh  - Chuyên mục :  Đã xem: 28 

Dạy tốt giới thiệu tới bạn đọc bài viết ĐỖ KHẮC CHUNG

 

                                             ĐỖ KHẮC CHUNG 

Ông sinh ngày 24 tháng 11 năm Đinh Mùi (1247) ở làng Cam Lộ, huyện Giáp Sơn, tỉnh Hưng Yên. Phụ thân ông là Đỗ Nhuận, mẹ là Vũ Thị Hương cùng làng Cam Lộ, đều vốn làm nghề thầy thuốc.

        Là một nho sinh túc học, ông rất quan tâm đến sách vở và dạy bảo học trò.

        Trong một lần du lãm đến ấp Sơn Đông, lộ Tam Đái (xã Sơn Đông, huyện Lập Thạch ngày nay), thấy nhân dân chất phác, học hỏi ít, nhưng bù lại phong cảnh núi sông lại đẹp, địa thế giao thông thuận lợi từ kinh thành Thăng Long qua miền ngã ba sông Bạch Hạc, lên tận đầu nguồn xứ Tuyên Quang, ông mới bảo nhân dân dựng trường học, dạy cho chữ nghĩa.

          Thời gian chừng khoảng 6-7 năm, dân tục đã trở nên tốt đẹp, học hỏi được tinh thông, trở thành một vùng dân có lễ nghĩa, nên ai ai cũng rất mến phục ông.
        Sau thời gian ở Sơn Đông, ông về triều đình thi đỗ và gia nhập hàng ngũ sĩ phu, làm quan triều Trần trong thời gian tới 50 năm, luôn thăng tiến, ông có công lớn trong cuộc kháng chiến chống quân Nguyên lần thứ hai với tư cách như Bộ trưởng Ngoại giao, ông đã ra vào tổng hành dinh quân Nguyên nhiều lần để đàm phán, điều đình, thực hiện xuất sắc chiến lược vừa đánh vừa đàm của triều đình nhà Trần.

        Năm 1280, ông được phong chức Thiếu bảo hành Thánh từ cung (Tể tướng thứ hai) Đỗ Khắc Chung làm quan dưới bốn triều vua Trần.

                - Trần Nhân Tông:       Từ  1280 - 1293

                - Trần Anh Tông:               1293 – 1314

                - Trần Minh Tông:             1314 – 1329

                - Trần Hiến Tông:        Từ 1329 đến tháng 7 năm Canh Ngọ (1330) thì mất, hưởng thọ 84 tuổi.

        Hiện nay, ở thôn Quan Tử (làng Gốm) xã Sơn Đông có đền thờ Đỗ Khắc Chung (thường gọi là Miếu Quan Tử) bởi ông được nhân dân tôn vinh làm THÀNH HOÀNG LÀNG.

        Bức hoành phi trước thượng điện với bốn chữ lớn VẠN ĐẠI CHIÊM NGƯỠNG (vạn đời trông theo) là để khẳng định ghi ơn người Thầy giáo làng - người thứ nhất đến mở mang nền văn hiến cho dân ấp mà sau đó đến triều Lê sơ và Triều Mạc, trong vòng 88 năm từ Lê Nhân Tông năm Quý Dậu (1453) đến Mạc Phúc Hải năm Quảng Hoà Tân Sửu (1541), thành đạt 12 tiến sĩ Nho khoa. Hiện trong miếu thờ ông có bia ghi danh và chức tước 12 vị tiến sĩ của làng được tôn thờ, theo như quy cách của Văn Miếu - Quốc Tử Giám Hà Nội, trán bia ghi bốn chữ lớn TIÊN HIỀN LIỆT VỊ.

        Đền thờ tọa lạc trên nền chính của ngôi trường xưa, có thế đất tựa cỗ nghiên bút như chỉ ra làng này là nơi “đất học”.

        Cũng ở trong toà thượng điện, còn có đôi câu đối, giành nhắc đến chiến công của Ông trong cuộc đời làm quan dưới triều vua Nhân Tông.

        Ô tưởng hùng phong tam thoái xá
        Long vương hồng huống vạn tư niên.

        (Tướng ô trước gió mạnh, lui về 3 sá.
        Vua Rồng gặp cả sóng, sợ đến vạn năm )

        Chữ “Ô” là một lối chơi chữ: Ô vừa là để chỉ tưởng quạ (giặc - nghĩa đen) vừa là chỉ tướng, nguyên có tên là Ô-Mã-Nhi trong cuộc hai người gặp gỡ biện thuyết nổi tiếng trên sông nước ở Đông Bộ Đầu trưa ngày 12 tháng giêng năm Ất dậu (1285).

        Đây là một chút nhắc nhở về cống hiến ở phương diện quốc gia – căn nguyên để ông được nhà vua cho ân điển mang họ vua: từ họ Đỗ đổi sang họ Trần là TRẦN KHẮC CHUNG. Còn thì về chủ thể, Đền là nơi tôn thờ một vị thầy giáo đem đến chữ nghĩa, lễ giáo và trí tuệ cho dân làng, mở ra một hướng mới: Hướng đầu tư vào học nghiệp của cả làng, có truyền thống tới hơn 700 năm nay.


 
Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết

  Ý kiến bạn đọc

  Ẩn/Hiện ý kiến

Mã chống spam   

Những tin mới hơn

 

Những tin cũ hơn

Thời điểm thi THPT QG

Bạn muốn tổ chức thi thử vào THPT QG khi nào?

Top