Chu Văn An (1292-1370)

 - Người đăng bài viết: nguyễn thị linh  - Chuyên mục :  Đã xem: 319 

Dạy tốt giới thiệu tới bạn đọc bài viết về Chu Văn An (1292-1370)

 

Chu Văn An (1292-1370)

Chu Văn An (1292-1370) tên thật là Chu An, hiệu là tên chữ là Linh Triệt, hiệu Tiều Ân, quê thôn Văn, xã Quang Liệt (nay là xã Thanh Liệt - huyện Thanh Trì, Hà Nội ). Thời trẻ ông đã từng đỗ Thái học sinh, là một nhà Nho tài đức, nổi tiếng nghĩa khí, một nhà sư phạm lỗi lạc, đã tham gia dạy học và quản lý Văn Miếu-Quốc Tử Giám ( Trường đại học đầu tiên của nước ta) có công đào tạo nhiều học trò thành đạt, đỗ đạt cao như: Phạm Sư Mạnh, Lê Quát... Tại Văn Miếu-Hà Nội, trải qua bao đời, nhân dân đã tôn thờ ông. Năm 2001, Nhà nước ta đã cho đúc tượng đồng Chu Văn An để thờ phụng, mãi mãi ghi nhớ công lao, tài đức của đấng danh nhân hào kiệt.
Niên hiệu Khai Thái (1324-1329) triều Trần Minh Tông, ông được vời vào cung để dạy con vua (Trần Vượng) rồi dạy vua (Hiến Tông) và làm tư nghiệp Quốc Tử giám (như chức Phó Hiệu trưởng trường đại học bây giờ). Đến triều Trần Dụ Tông (1341-1369) tình cảnh xă hội vô cùng nhiễu nhương. Dụ Tông là tay ăn chơi thích tửu sắc hát xướng. Cận thần là lũ bất tài, o bế vua để lộng hành. Dân tình đói khổ. Nhiêù trung thần nghĩa sĩ bị hăm hại. Các quan ngự sử chuyên lo việc can ngăn vua giờ chỉ biết ngồi im ăn lộc, ai có ý định can vua, gia đình phải phát tang làm ma sống rồi mới vào triều...

Chu Văn An vốn điềm đạm, ít ham muốn, nhưng lại thẳng thắn ngạch trực. Căm ghét bọn gian thần hiểm độc, bất tài, Chu Văn An đă dũng cảm dâng sớ xin chém bảy gian thần - người đời quen gọi là “ Thất trảm sớ”. Sớ thất trảm ấy không còn, ngay đương thời cũng ít người được biết ông xin chém những ai. Có thể Dụ Tông muốn tránh rắc rối cho triều đình và giữ yên cho Chu Văn An nên đă hủy đi. Dù thế, thất trảm sớ đă gây chấn động dư luận, nói như người xưa: làm kinh động quỷ thần, và trở thành biểu tượng chói sáng của thái độ trí thức trước thời cuộc, của bản lĩnh Chu Văn An. Do Thất trảm sớ không được thực hiện, Chu Văn An đã lui về ở ẩn tại tại núi Phượng Hoàng, Chí Linh, Hải Dương.

Theo Phan Huy Chú, Chu Văn An có hai tập thơ, một Hán: Tiểu ẩn thi tập một nôm: Tiểu ẩn quốc ngữ thi tập và một bộ giáo trình Tứ thư thuyết ước. Nhưng hiện nay chỉ còn 12 bài chữ Hán, Phan Huy Chú nhận xét: lời thơ trong sáng Đây là thơ Chu Văn An viết khi lui về ở ẩn. Thơ ông chịu ảnh hưởng của đạo Phật như nhiều nhà thơ thời ấy, nhưng chủ yếu hơn, ông rất trọng hiện thực, tin vào sự chiêm nghiệm của mình, không theo những nếp nghĩ có sẵn. Thấy cá thì nói cá, thấy mây thì nói mây, chứ không theo thói thường các ẩn sỹ nói mây thì lại tả hạc, nói ao lại tả rồng:

Cá bơi trên ao cũ, rồng ở chốn nào
Mây đầy núi vắng, hạc chẳng thấy về
Chính vě phương pháp suy nghĩ ấy nên khi thơ ông ca ngợi sự lánh đời, chúng ta lắng nghe vẫn thấy ở phía sau một nỗi niềm không thoát tục. Ông viết:" Thân cùng mây tẻ quyến luyến hốc núi/ Lòng cùng giếng cổ chẳng hề gợn sóng". Nhưng chính ông cũng lại viết: "Tấc lòng chưa lạnh như tro đất". Ông ở ẩn là do tình thế bắt buộc, sau thất trảm sớ làm sao ông còn ở kinh đô được. Ông ở ẩn mang theo một chí nguyện không thành, muốn giúp đời mà không giúp được, chứ đâu phải vì ham thú tiêu dao. Ca ngợi hạc nội, mây ngàn cũng chỉ là cách tự an ủi. Hướng lòng về thiên nhiên chỉ để dịu nỗi buồn nhân thế. Nhiều lúc ông không giấu được xót xa:

Công danh trót lạc vào hư ảo
Hồ hải rong chơi bớt nỗi sầu
Đôi lúc ta đọc được ở ông sự day dứt rất đáng cảm thông:
Nhà ngọc, lều tranh đều có số
Đục Kinh, trong Vị chẳng cùng xuôi
(Nước sông Kinh đục, nước sông Vị trong không thể cùng dòng).

Tượng thờ Chu Văn An tại Văn Miếu-Quốc Tử Giám
Tượng thờ Chu Văn An tại Văn Miếu-Quốc Tử Giám

Ở ẩn Chu Văn An vẫn rạch ròi thế sự. Chu Văn An không nguôi nỗi khắc khoải; mấy lần ngập ngừng đi rồi lại trở về kinh. Chúng ta hiểu vì sao khi Trần Nghệ Tông lấy lại ngôi vua từ Dương Nhật Lễ, ông đă chống gậy về triều mừng chúc. Ông lánh thân nhưng lòng vẫn ở giữa đời.
Học trò của ông có người đã đi vào truyền thuyết như Thủy thần, dám hy sinh thân mình cứu dân. Sau khi mất, người này được dân các làng Bằng Liệt, Linh Đàm, Tứ Kỳ (phường Hoàng Liệt); làng Đại Từ (phường Đại Kim); làng Tựu Liệt (huyện Thanh Trì) dựng đền thờ. Đền chính thuộc địa phận làng Bằng Liệt, tên chữ Xá Can từ, tục gọi miếu Gàn.

Các sách sử như Tối linh từ thực lục, Việt sử tiêu án, Tang thương ngẫu lục, Chu Văn An tiểu sử... đều thống nhất cách gọi như trên. Sắc phong thần của các triều Lê, Nguyễn còn lưu ở các ngôi đền này cho thấy học trò thủy thần được phong là Bảo Ninh Vương. Cụ Vũ Tuân Sán trong một công trình nghiên cứu về Chu Văn An cho biết, các tên gọi vừa nêu còn được ghi trên tấm bia đá dựng năm Thành Thái thứ 19 (tức năm 1907) tại đền này.

Chu Văn An là một danh nhân lịch sử - văn hóa của đất Việt, nhưng trước hết ông là một thầy giáo sống mãi trong lòng nhân dân muôn thế hệ.


 
Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết

  Ý kiến bạn đọc

  Ẩn/Hiện ý kiến

Mã chống spam   

Những tin mới hơn

 

Những tin cũ hơn

Thời điểm thi THPT QG

Bạn muốn tổ chức thi thử vào THPT QG khi nào?

Top